Bình luận Điều 102 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015: Trưng cầu giám định, yêu cầu giám định
Điều 102. Trưng cầu giám định, yêu cầu giám định 1. Đương sự có quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định hoặc tự mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị Tòa án trưng cầu giám định nhưng Tòa án từ chối yêu cầu của đương sự. Quyền tự yêu cầu giám định được thực hiện trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự. 2. Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán ra quyết định trưng cầu giám định. Trong quyết định trưng cầu giám định phải ghi rõ tên, địa chỉ của người giám định, đối tượng cần giám định, vấn đề cần giám định, các yêu cầu cụ thể cần có kết luận của người giám định. 3. Trường hợp xét thấy kết luận giám định chưa đầy đủ, rõ ràng hoặc có vi phạm pháp luật thì theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa án yêu cầu người giám định giải thích kết luận giám định, triệu tập người giám định đến phiên tòa, phiên họp để trực tiếp trình bày về các nội dung cần thiết. 4. Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định bổ sung trong trường hợp nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc khi phát sinh vấn đề mới liên quan đến tình tiết của vụ việc đã được kết luận giám định trước đó. 5. Việc giám định lại được thực hiện trong trường hợp có căn cứ cho rằng kết luận giám định lần đầu không chính xác, có vi phạm pháp luật hoặc trong trường hợp đặc biệt theo quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chá
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
1. Noi dung Dieu 102 BLTTDS 2015
Nội dung Điều 102 BLTTDS 2015
Điều 102 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về trưng cầu giám định và yêu cầu giám định, được đặt trong Chương V (Biện pháp khẩn cấp tạm thời) và Mục 1 Chương VII về chứng cứ. Theo nội dung điều luật, đương sự có quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định; trường hợp xét thấy cần thiết, Tòa án tự mình trưng cầu giám định để làm rõ các tình tiết của vụ án, trừ trường hợp pháp luật quy định việc giám định do cơ quan khác thực hiện. Đương sự yêu cầu giám định phải nêu rõ vấn đề cần giám định, giải trình lý do cần giám định và nộp tạm ứng chi phí giám định, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp theo quy định.
Về thủ tục, khi có yêu cầu giám định hợp lệ, Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định, ghi rõ nội dung cần giám định, tổ chức giám định được lựa chọn, thời hạn thực hiện và trách nhiệm của các bên liên quan. Kết quả giám định là một loại chứng cứ, được sử dụng để chứng minh các tình tiết như tình trạng sức khỏe, mức độ thiệt hại tài sản, tính xác thực của chữ ký, tài liệu.
Ví dụ thực tiễn: Trong vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản, bị đơn cho rằng chữ ký trên giấy vay không phải của mình. Nguyên đơn yêu cầu giám định chữ ký. Tòa án căn cứ Điều 102 ra quyết định trưng cầu giám định tại Phòng Kỹ thuật hình sự; kết luận giám định xác định chữ ký là của bị đơn, từ đó làm căn cứ buộc bị đơn trả nợ.
Điều 102 cần được đọc gắn với Điều 92 (nghĩa vụ chứng minh), Điều 93 (xác minh, thu thập chứng cứ) và Điều 94 (quyền yêu cầu giám định), bảo đảm cân bằng giữa quyền tự định đoạt của đương sự và vai trò chủ động của Tòa án trong việc làm rõ sự thật khách quan.
2. Phan tich quy dinh phap luat
Phân tích quy định pháp luật
Điều 102 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) 2015 là quy định trung tâm về trưng cầu giám định và yêu cầu giám định, đặt trong mối liên hệ với các điều 80 (chứng cứ), 91, 92 (nghĩa vụ chứng minh, giao nộp tài liệu), 104 (người giám định), 105 (trưng cầu giám định) và 106 (yêu cầu giám định). Theo đó, Tòa án chỉ xem xét trưng cầu giám định khi xét thấy cần thiết và đương sự có yêu cầu; nếu Tòa án tự mình trưng cầu thì phải có quyết định, đồng thời việc yêu cầu phải được thể hiện bằng văn bản, ghi rõ tên, địa chỉ tổ chức giám định, tên người giám định, nội dung yêu cầu giám định, các vấn đề cần giám định và tài liệu, mẫu vật kèm theo. Điều 102 đồng thời đặt ra thời hạn thực hiện và hệ quả pháp lý của việc không thực hiện nghĩa vụ cung cấp tài liệu, mẫu vật: nếu đương sự từ chối hoặc cản trở mà bên kia có yêu cầu thì Tòa án có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế hoặc coi như bên đó không phản đối yêu cầu của đương sự kia.
Quy định này thể hiện triết lý tố tụng Việt Nam về sự kết hợp giữa tính chủ động của Tòa án và nguyên tắc tranh tụng: đương sự có quyền nêu yêu cầu giám định nhưng không được tùy tiện lạm dụng. Ví dụ thực tiễn, trong vụ tranh chấp hợp đồng mua bán, bị đơn cho rằng hàng hóa bị lỗi chất lượng nhưng từ chối giao mẫu hàng để giám định dù Tòa án đã yêu cầu bằng văn bản; khi đó, theo tinh thần Điều 102, Tòa án có thể xem xét yêu cầu giám định của nguyên đơn để làm căn cứ giải quyết theo hướng bất lợi cho bị đơn, phù hợp với nghĩa vụ chứng minh tại Điều 91 BLTTDS. Từ góc độ so sánh, quy định này tạo hành lang pháp lý cho hoạt động giám định tư pháp, góp phần bảo đảm bản án, quyết định dân sự có căn cứ khách quan, khoa học.
Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng cho thấy cần làm rõ hơn tiêu chí “cần thiết” và thời điểm trưng cầu để tránh kéo dài tố tụng, bảo đảm quyền tiếp cận công lý của các bên.
3. Thuc tien ap dung va luu y
Thực tiễn áp dụng và lưu ý
Trên thực tế, Điều 102 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 được vận dụng khá thường xuyên nhưng cũng bộc lộ nhiều vướng mắc. Điều luật ghi nhận hai hình thức: đương sự, cơ quan, tổ chức trưng cầu giám định và Tòa án yêu cầu giám định khi xét thấy cần thiết hoặc theo quy định tại khoản 2 Điều 102 (các trường hợp bắt buộc như xác định mức độ suy giảm khả năng lao động, khả năng nhận thức, năng lực hành vi dân sự...). Yêu cầu giám định phải kèm theo văn bản nêu rõ nội dung cần giám định, đối tượng giám định và kết luận mong muốn.
Ví dụ thực tiễn: trong vụ tranh chấp hợp đồng xây dựng, nguyên đơn yêu cầu giám định chất lượng công trình để chứng minh thiệt hại; Tòa án phải xem xét tính cần thiết, hợp lý của yêu cầu này, tránh việc đương sự lạm dụng giám định nhằm kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Nếu đương sự tự trưng cầu giám định ngoài tố tụng thì kết luận giám định được coi là nguồn chứng cứ theo Điều 94 Bộ luật, nhưng giá trị chứng minh cần được đánh giá khách quan cùng các chứng cứ khác.
Cần lưu ý: (i) thời hạn và chi phí giám định phải được Tòa án quyết định theo Điều 101, tránh để việc giám định làm chậm trễ tố tụng; (ii) đương sự không được tự ý thực hiện giám định sau khi Tòa án đã ra quyết định mà không có ý kiến của Tòa; (iii) trường hợp giám định lại, giám định bổ sung phải tuân thủ quy định tại Điều 102 và các văn bản hướng dẫn thi hành; (iv) kết luận giám định không rõ ràng hoặc mâu thuẫn phải được làm rõ trước khi chấp nhận làm căn cứ giải quyết vụ án.
Thực tiễn cho thấy nhiều Tòa án còn lúng túng trong việc thẩm định tính cần thiết của yêu cầu giám định của đương sự, dẫn tới kéo dài thời hạn tố tụng. Vì vậy, cần xem xét Điều 102 gắn với Điều 94, Điều 101 và các quy định về thời hạn, đảm bảo tính chính xác, khách quan, công minh của quá trình giải quyết vụ việc dân sự.
Lưu ý khi áp dụng
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
- Bo luat To tung dan su 2015 - Dieu 102