Điều 18. Không hạn chế năng lực pháp luật dân sự của cá nhân Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Nội dung Điều 18 Bộ luật Dân sự 2015
Điều 18 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “1. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là như nhau. 2. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp do luật quy định.” Điều luật được đặt trong Chương III về cá nhân, ngay sau Điều 16 (năng lực pháp luật dân sự của cá nhân) và Điều 17 (nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân), tạo nên bộ ba quy định nền tảng về địa vị pháp lý của cá nhân trong quan hệ dân sự. Theo đó, năng lực pháp luật dân sự được hiểu là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự, phát sinh từ khi cá nhân sinh ra và chấm dứt khi cá nhân chết (Điều 16).
Nội dung cốt lõi của Điều 18 thể hiện ở hai phương diện. Thứ nhất, khoản 1 xác lập nguyên tắc bình đẳng tuyệt đối về năng lực pháp luật dân sự: mọi cá nhân, không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo, thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế hay trình độ học vấn, đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau. Quy định này cụ thể hóa nguyên tắc bình đẳng tại khoản 1 Điều 3 Bộ luật Dân sự 2015 và xuất phát từ Hiến pháp về quyền con người, quyền công dân bình đẳng trước pháp luật. Thứ hai, khoản 2 khẳng định năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp do luật quy định; nghĩa là chỉ văn bản luật (không phải nghị định, thông tư hay quyết định hành chính) mới có thể đặt ra ngoại lệ, và ngoại lệ đó phải phù hợp với giới hạn tại khoản 2 Điều 2 Bộ luật Dân sự 2015 (vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng).
Ví dụ thực tiễn: A là người khuyết tật vận động, B là cán bộ nhà nước; cả hai đều có quyền giao kết hợp đồng mua bán, lập di chúc, khởi kiện dân sự như nhau. Việc một cơ quan ban hành quy định nội bộ hạn chế người khuyết tật tham gia giao dịch dân sự là trái Điều 18. Tương tự, quy định cấm người đang chấp hành án phạt tù giao kết hợp đồng dân sự chỉ hợp pháp khi có cơ sở luật (như Luật Thi hành án hình sự) và đáp ứng điều kiện tại Điều 2 Bộ luật Dân sự 2015.
Như vậy, Điều 18 cùng các Điều 16, 17 Bộ luật Dân sự 2015 bảo đảm mọi cá nhân đều có vị thế bình đẳng khi tham gia quan hệ dân sự, đồng thời ngăn chặn mọi sự tùy tiện hạn chế quyền dân sự trái luật.
Ý nghĩa. Điều 18 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Không ai bị hạn chế năng lực pháp luật dân sự, trừ trường hợp luật quy định”. Quy định này cụ thể hóa Điều 14 Hiến pháp 2013 về quyền con người, quyền công dân và Điều 2 Bộ luật Dân sự 2015 về công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền dân sự. Năng lực pháp luật dân sự là khả năng có quyền, nghĩa vụ dân sự; nó gắn với mỗi cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết (Điều 16 Bộ luật Dân sự 2015), mang tính bình đẳng và không thể bị tước bỏ một cách tùy tiện. Điều 18 vì vậy là bảo đảm pháp lý cho nguyên tắc mọi cá nhân bình đẳng, không bị phân biệt đối xử (khoản 1 Điều 3 Bộ luật Dân sự 2015), đồng thời là “van an toàn” chống lại việc dùng văn bản dưới luật hoặc quyết định hành chính để hạn chế quyền dân sự trái pháp luật.
Nguyên tắc áp dụng. Thứ nhất, hạn chế năng lực pháp luật dân sự chỉ được đặt ra khi có quy định của luật, không thể bằng nghị định, thông tư hay quyết định của cơ quan nhà nước. Thứ hai, việc hạn chế phải xuất phát từ lý do chính đáng được Điều 2 Bộ luật Dân sự 2015 liệt kê (quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng) và phải tương xứng, không được xâm phạm bản chất quyền. Thứ ba, khi có xung đột, áp dụng Điều 4 Bộ luật Dân sự 2015: luật chuyên ngành không được trái nguyên tắc cơ bản của Bộ luật; nếu trái thì quy định của Bộ luật được áp dụng.
Ví dụ thực tiễn. Một người bị khởi tố, tạm giam vẫn có năng lực pháp luật dân sự đầy đủ: họ vẫn có quyền sở hữu tài sản, quyền thừa kế, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại. Chỉ những hạn chế cụ thể do luật định (như hạn chế quyền quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự theo Điều 22) mới được áp dụng, và việc hạn chế đó phải được hiểu là ngoại lệ hẹp, có kiểm soát. Đây chính là tinh thần của Điều 18: tự do dân sự là mặc định, hạn chế là ngoại lệ có căn cứ luật.
Tình huống thực tiễn. A là người bị kết án tù về tội kinh tế, đang chấp hành án. Sau khi ra trại, A muốn mua nhà, vay vốn ngân hàng và lập di chúc. Một số ý kiến cho rằng, do đã từng bị kết án, A không còn đủ "tư cách" để xác lập các giao dịch này và cần có người đại diện. Cách hiểu này trái với Điều 18 Bộ luật Dân sự 2015 – năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết. Việc bị kết án, kể cả tội kinh tế, không làm mất năng lực pháp luật dân sự. A vẫn có quyền nhân thân và tài sản, vẫn có thể mua nhà, vay vốn, lập di chúc. Tuy nhiên, khi giao kết hợp đồng, phải xét đến năng lực hành vi dân sự (Điều 19 – 24) và điều kiện của pháp luật chuyên ngành. Nếu A đã thành niên, không mất năng lực hành vi, không bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi thì A trực tiếp xác lập, thực hiện giao dịch. Chỉ khi Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp hạn chế quyền, hoặc cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề theo bản án hình sự thì mới có giới hạn cụ thể, và giới hạn đó phải dựa trên luật, phù hợp Điều 2 khoản 2. Ví dụ, người bị cấm kinh doanh ngành nghề nhất định trong thời hạn nhất định thì không được đăng ký kinh doanh ngành nghề đó, nhưng vẫn giữ nguyên năng lực pháp luật dân sự về nhân thân, tài sản.
Lưu ý khi vận dụng. Thứ nhất, không được đánh đồng năng lực pháp luật dân sự với năng lực hành vi dân sự; Điều 18 khẳng định tính phổ quát, còn hạn chế hành vi chỉ đặt ra theo Điều 22 – 24 và theo quyết định của Tòa án. Thứ hai, mọi hạn chế quyền dân sự phải do luật quy định và vì các lý do tại Điều 2 khoản 2; không thể dùng quy định dưới luật, quy chế nội bộ để tước bỏ năng lực pháp luật. Thứ ba, khi xử lý giao dịch của người từng bị kết án, cần kiểm tra bản án, quyết định còn hiệu lực, thời hạn cấm và phạm vi cấm. Thứ tư, cơ quan đăng ký, công chứng không được từ chối chỉ vì lý lịch tư pháp, nếu không có căn cứ pháp luật về hạn chế cụ thể. Việc vận dụng đúng Điều 18 bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo Điều 2, Điều 3 Bộ luật Dân sự 2015 và tránh phân biệt đối xử trái pháp luật.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm: