Bình luận Điều 101 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015: Xem xét, thẩm định tại chỗ | Công ty Luật Minh Bạch

Bình luận Điều 101 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015: Xem xét, thẩm định tại chỗ

Tố tụng dân sự & hành chính · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/10

Điều 101. Xem xét, thẩm định tại chỗ 1. Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ với sự có mặt của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định và phải báo trước việc xem xét, thẩm định tại chỗ để đương sự biết và chứng kiến việc xem xét, thẩm định đó. 2. Việc xem xét, thẩm định tại chỗ phải được ghi thành biên bản. Biên bản phải ghi rõ kết quả xem xét, thẩm định, mô tả rõ hiện trường, có chữ ký của người xem xét, thẩm định và chữ ký hoặc điểm chỉ của đương sự nếu họ có mặt, của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng được xem xét, thẩm định và những người khác được mời tham gia việc xem xét, thẩm định. Sau khi lập xong biên bản, người xem xét, thẩm định phải yêu cầu đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng được xem xét, thẩm định ký tên và đóng dấu xác nhận. 3. Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở việc xem xét, thẩm định tại chỗ. 4. Thẩm phán có quyền đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an xã, phường, thị trấn nơi có đối tượng được xem xét, thẩm định tại chỗ hỗ trợ trong trường hợp có hành vi cản trở việc xem xét, thẩm định tại chỗ.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Noi dung Dieu 101 BLTTDS 2015

Nội dung Điều 101 BLTTDS 2015 quy định về việc xem xét, thẩm định tại chỗ trong tố tụng dân sự. Theo đó, việc xem xét, thẩm định tại chỗ được tiến hành khi cần thiết để làm rõ các tình tiết của vụ án mà không thể xem xét thông qua tài liệu, chứng cứ đã có. Tòa án có thể tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ theo yêu cầu của đương sự hoặc khi thấy cần thiết. Trước khi tiến hành, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp về thời gian, địa điểm tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ. Việc xem xét, thẩm định tại chỗ phải được ghi thành biên bản, có chữ ký của các thành viên tham gia và người chứng kiến (nếu có).

Phân tích cho thấy, Điều 101 tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động thu thập, kiểm tra chứng cứ tại hiện trường, góp phần bảo đảm việc giải quyết vụ án khách quan, toàn diện. Ví dụ thực tiễn: trong tranh chấp ranh giới đất đai, Tòa án tiến hành thẩm định tại chỗ để xác định mốc giới thực tế, so sánh với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; biên bản thẩm định là chứng cứ quan trọng để Hội đồng xét xử đánh giá. Điều luật này cần được đọc cùng các điều 97, 98 BLTTDS 2015 về xác minh, thu thập chứng cứ và Điều 94 về nghĩa vụ chứng minh của đương sự, bởi kết quả thẩm định tại chỗ phải được công khai, sử dụng trong quá trình tranh tụng. Việc không thông báo cho đương sự hoặc Viện kiểm sát tham gia có thể dẫn đến vi phạm thủ tục tố tụng, ảnh hưởng đến tính hợp pháp của chứng cứ. Như vậy, Điều 101 góp phần cụ thể hóa nguyên tắc bảo đảm tranh tụng và quyền tiếp cận công lý của đương sự.

2. Phan tich quy dinh phap luat

Điều 101 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về xem xét, thẩm định tại chỗ, theo đó Tòa án có thể tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ khi xét thấy cần thiết cho việc giải quyết vụ việc dân sự. Việc xem xét, thẩm định tại chỗ phải được thông báo trước cho đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp biết để họ có mặt và tham gia; nếu họ vắng mặt thì việc xem xét, thẩm định vẫn được tiến hành, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Điều luật cũng xác định rõ chủ thể tiến hành: Thẩm phán chủ trì, có sự tham gia của Thư ký Tòa án, đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức có liên quan nơi tiến hành thẩm định.

Về giá trị chứng cứ, Điều 101 khoản 4 xác định biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ là một nguồn chứng cứ quan trọng, được lập thành văn bản có chữ ký của những người tham gia. So sánh với Bộ luật Tố tụng dân sự 2004, Điều 101 năm 2015 mở rộng hơn quyền tham gia của đương sự và tăng cường vai trò của Viện kiểm sát, bảo đảm tính công khai, minh bạch. Thực tiễn xét xử cho thấy trong các tranh chấp đất đai, tranh chấp ranh giới, việc đo đạc, thẩm định tại chỗ theo Điều 101 thường là căn cứ then chốt để xác định quyền sử dụng đất. Ví dụ, trong vụ án ranh giới liền kề, Tòa án đã tiến hành xem xét tại chỗ có mặt hai bên đương sự, đại diện chính quyền địa phương, lập biên bản xác định hiện trạng mốc giới, từ đó làm căn cứ chấp nhận hoặc bác yêu cầu khởi kiện. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy có trường hợp biên bản thẩm định thiếu chữ ký đương sự, dẫn đến khiếu nại về tính khách quan. Do vậy, việc tuân thủ chặt chẽ trình tự thông báo và lập biên bản theo Điều 101 là điều kiện bảo đảm giá trị chứng minh của kết quả thẩm định tại chỗ.

3. Thuc tien ap dung va luu y

Trên thực tiễn, Điều 101 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 được áp dụng khá phổ biến trong các vụ án tranh chấp đất đai, thừa kế, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất – những loại việc mà tài liệu, chứng cứ thường phức tạp và dễ phát sinh mâu thuẫn về hiện trạng. Chẳng hạn, trong vụ án tranh chấp ranh giới đất, Tòa án thường tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ theo quy định tại khoản 1 Điều 101, phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã và Văn phòng đăng ký đất đai để đo đạc, đối chiếu với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Kết quả thẩm định tại chỗ là chứng cứ quan trọng, được công bố và thẩm tra tại phiên tòa theo Điều 220, Điều 221 Bộ luật này.

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy một số vướng mắc. Thứ nhất, việc xác định có cần thiết thẩm định tại chỗ hay không đôi khi tùy tiện; có trường hợp Tòa án không thông báo hợp lệ cho đương sự theo khoản 2 Điều 101, dẫn đến đương sự vắng mặt và khiếu nại về tính khách quan của biên bản. Thứ hai, chi phí thẩm định tại chỗ theo Điều 101 và Điều 168 cần được tạm ứng, quyết toán minh bạch; nếu đương sự không nộp tạm ứng, Tòa án có thể từ chối yêu cầu. Thứ ba, biên bản thẩm định phải ghi rõ thời gian, địa điểm, thành phần, diễn biến và có chữ ký của những người tham gia; thiếu một trong các yếu tố này dễ bị hủy hoặc không được coi là chứng cứ.

Lưu ý nghiệp vụ: cần xác định đúng phạm vi, đối tượng thẩm định; mời đầy đủ đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền lợi; lập biên bản và sơ đồ, hình ảnh kèm theo; bảo đảm nguyên tắc tranh tụng theo Điều 24. Việc tuân thủ Điều 101 không chỉ bảo đảm tính hợp pháp của chứng cứ mà còn góp phần giải quyết vụ án nhanh chóng, chính xác, công minh theo Điều 1 Bộ luật.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Bo luat To tung dan su 2015 - Dieu 101
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.
📞 💬 WhatsApp