Điều 635. Di chúc có công chứng hoặc chứng thực Người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực bản di chúc.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Căn cứ: Điều 635 Bộ luật Dân sự 2015 (91/2015/QH13).
Điều 635 quy định hai hình thức di chúc có công chứng hoặc chứng thực:
Phân tích. Điều luật mở quyền lựa chọn: người lập di chúc tự nguyện yêu cầu công chứng (tại tổ chức hành nghề công chứng) hoặc chứng thực (tại UBND cấp xã). Di chúc bằng văn bản có công chứng, chứng thực được suy đoán hợp pháp về hình thức, giảm tranh chấp về chữ ký, năng lực hành vi, tính tự nguyện. Khoản 2 siết chặt di chúc miệng: chỉ hợp pháp khi hội đủ hai người làm chứng, ghi chép, ký/điểm chỉ, và được xác nhận trong 05 ngày làm việc. Quá hạn, di chúc miệng vô hiệu.
Ví dụ. Ông A bệnh nặng, tuyên bố miệng để lại nhà cho con. Hai người làm chứng ghi lại, ký tên. Sau 03 ngày, bà B (công chứng viên) xác nhận chữ ký người làm chứng — di chúc miệng hợp pháp theo khoản 2. Ngược lại, nếu 07 ngày sau mới xác nhận, di chúc vô hiệu; di sản chia theo pháp luật.
Lưu ý thực tiễn. Di chúc có công chứng, chứng thực vẫn có thể bị vô hiệu nếu vi phạm điều kiện về năng lực chủ thể, tự nguyện, nội dung không trái điều cấm (Điều 630, 632). Công chứng, chứng thực chỉ bảo đảm hình thức, không thay thế điều kiện hiệu lực nội dung.
Căn cứ: Điều 635 Bộ luật Dân sự 2015 (91/2015/QH13).
Điều kiện áp dụng. Di chúc bằng văn bản có thể được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu người lập. Điều 635 xác định hai hình thức: (i) công chứng tại tổ chức hành nghề công chứng; (ii) chứng thực tại Ủy ban nhân dân cấp xã. Người lập phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, tự nguyện, minh mẫn tại thời điểm lập; nội dung không trái điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội (Điều 3, Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015).
Thủ tục công chứng. Người lập xuất trình CMND/CCCD, giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản (nếu định đoạt tài sản). Công chứng viên kiểm tra nhân thân, ý chí, nội dung; người lập ký hoặc điểm chỉ trước mặt công chứng viên. Công chứng viên ghi lời chứng, ký, đóng dấu. Di chúc được lập thành ít nhất hai bản, một bản lưu tại tổ chức công chứng.
Thủ tục chứng thực. Người lập nộp tại UBND cấp xã nơi cư trú. Cán bộ tư pháp – hộ tịch kiểm tra, chứng kiến ký/điểm chỉ, ghi lời chứng, Chủ tịch UBND ký, đóng dấu. Áp dụng khi người lập không có điều kiện đến tổ chức công chứng hoặc lựa chọn địa bàn cấp xã.
Ví dụ thực tiễn. Ông A lập di chúc định đoạt căn nhà, đến Văn phòng công chứng. Công chứng viên kiểm tra giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xác nhận ông minh mẫn, tự nguyện; hai bản di chúc được lập, một bản lưu. Di chúc có giá trị chứng cứ cao, hạn chế tranh chấp về sau.
Lưu ý. Di chúc miệng chỉ hợp pháp trong trường hợp tính mạng bị đe dọa (Điều 629, 630). Công chứng, chứng thực không làm thay đổi quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế di chúc (Điều 640).
Lưu ý thực tiễn
Điều 635 Bộ luật Dân sự 2015 quy định di chúc bằng văn bản có thể có người làm chứng hoặc có công chứng, chứng thực. Công chứng do công chứng viên thực hiện; chứng thực do UBND xã, phường hoặc phòng tư pháp huyện thực hiện. Cả hai hình thức đều nâng cao giá trị chứng cứ, hạn chế tranh chấp về tính xác thực của di chúc.
Thực tiễn cho thấy nhiều di chúc bị vô hiệu do không tuân thủ trình tự, thủ tục. Ví dụ: người lập di chúc ký thay, điểm chỉ khi không đủ điều kiện; công chứng viên không đọc lại, không giải thích nội dung; người làm chứng thuộc trường hợp không được làm chứng. Khi phát sinh tranh chấp, Tòa án thường xem xét kỹ hồ sơ công chứng, chứng thực để đánh giá ý chí đích thực của người để lại di sản.
Một số lưu ý:
Việc lựa chọn công chứng hoặc chứng thực phụ thuộc điều kiện thực tế, nhưng mục tiêu chung là bảo đảm di chúc hợp pháp, hạn chế rủi ro vô hiệu và tranh chấp thừa kế về sau.
Di chúc có công chứng hoặc chứng thực là hình thức di chúc bằng văn bản có giá trị pháp lý cao, bảo đảm tính xác thực về ý chí, thời điểm, năng lực hành vi của người lập di chúc. Căn cứ Điều 635 Bộ luật Dân sự 2015 (91/2015/QH13), người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực; việc này giúp hạn chế tranh chấp, tăng độ tin cậy khi di chúc được đưa ra thực hiện.
Thực tiễn xét xử cho thấy nhiều di chúc viết tay bị vô hiệu do không đủ người làm chứng, chữ viết không rõ, hoặc không xác định được thời điểm lập. Ngược lại, di chúc đã công chứng tại văn phòng công chứng hoặc chứng thực tại UBND cấp xã thường được Tòa án chấp nhận, trừ khi có căn cứ chứng minh người lập bị lừa dối, đe dọa hoặc không minh mẫn tại thời điểm lập. Ví dụ: cụ A lập di chúc để lại nhà cho con trai, có công chứng viên xác nhận; sau khi cụ mất, các con khác tranh chấp nhưng Tòa án căn cứ văn bản công chứng để công nhận hiệu lực di chúc, trừ phần vượt quá di sản.
Tuy nhiên, công chứng hoặc chứng thực không thay thế các điều kiện có hiệu lực khác của di chúc: người lập phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội (Điều 630, 631, 632 Bộ luật Dân sự 2015). Di chúc có công chứng vẫn có thể bị vô hiệu toàn bộ hoặc một phần nếu nội dung vi phạm quy định về di sản dùng vào việc thờ cúng, truất quyền thừa kế trái luật, hoặc không bảo đảm quyền của người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc (Điều 626, 644).
Kết luận, lựa chọn công chứng hoặc chứng thực là biện pháp pháp lý an toàn, được Điều 635 Bộ luật Dân sự 2015 khuyến khích áp dụng. Người lập di chúc nên thực hiện đúng trình tự, cung cấp thông tin trung thực, và lưu giữ bản chính cẩn thận để bảo đảm di chúc được thực hiện đúng ý chí sau khi qua đời.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm: