Điều 98. Lấy lời khai của đương sự 1. Thẩm phán chỉ tiến hành lấy lời khai của đương sự khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng. Đương sự phải tự viết bản khai và ký tên của mình. Trường hợp đương sự không thể tự viết được thì Thẩm phán lấy lời khai của đương sự. Việc lấy lời khai của đương sự chỉ tập trung vào những tình tiết mà đương sự khai chưa đầy đủ, rõ ràng. Thẩm phán tự mình hoặc Thư ký Tòa án ghi lại lời khai của đương sự vào biên bản. Thẩm phán lấy lời khai của đương sự tại trụ sở Tòa án; trường hợp cần thiết có thể lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Tòa án. 2. Biên bản ghi lời khai của đương sự phải được người khai tự đọc lại hay nghe đọc lại và ký tên hoặc điểm chỉ. Đương sự có quyền yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản ghi lời khai và ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận. Biên bản phải có chữ ký của người lấy lời khai, người ghi biên bản và đóng dấu của Tòa án; nếu biên bản được ghi thành nhiều trang rời nhau thì phải ký vào từng trang và đóng dấu giáp lai. Trường hợp biên bản ghi lời khai của đương sự được lập ngoài trụ sở Tòa án thì phải có người làm chứng hoặc xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi lập biên bản. 3. Việc lấy lời khai của đương sự thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 69 của Bộ luật này phải được tiến hành với sự có mặt của người đại diện hợp pháp của đương sự đó.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Điều 98 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về việc lấy lời khai của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự. Theo điều luật, Tòa án có thể lấy lời khai của đương sự tại trụ sở Tòa án hoặc tại nơi cư trú, nơi làm việc của đương sự khi xét thấy cần thiết.
Nội dung cơ bản gồm:
Ví dụ thực tiễn: Trong vụ tranh chấp hợp đồng mua bán, nguyên đơn cư trú xa Tòa án. Thẩm phán quyết định lấy lời khai tại nơi cư trú theo khoản 1 Điều 98, lập biên bản có xác nhận của chính quyền địa phương. Biên bản này được dùng làm chứng cứ tại phiên tòa.
Lưu ý: lấy lời khai khác với hỏi đương sự tại phiên tòa (Điều 253). Việc lấy lời khai ngoài phiên tòa phải đảm bảo tính khách quan, không ép buộc, có mặt đầy đủ các bên liên quan khi cần thiết.
Điều 98 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định lấy lời khai của đương sự. Điều luật xác lập nghĩa vụ chứng minh gắn với lời khai: đương sự trình bày bằng lời hoặc văn bản những tình tiết liên quan đến vụ việc; Tòa án ghi vào biên bản, có thể ghi âm, ghi hình.
Nội dung cốt lõi:
Phân tích: Điều 98 cụ thể hóa nguyên tắc cung cấp chứng cứ (Điều 6, Điều 91). Lời khai đương sự là chứng cứ nhưng không đương nhiên có giá trị tuyệt đối; Tòa án phải đánh giá khách quan, toàn diện cùng các chứng cứ khác (Điều 108). Nếu đương sự vắng mặt không có lý do chính đáng, Tòa án có thể coi là từ bỏ lời khai, ảnh hưởng bất lợi đến nghĩa vụ chứng minh.
Ví dụ thực tiễn: Trong vụ tranh chấp hợp đồng vay, nguyên đơn khai đã giao 500 triệu đồng tiền mặt, bị đơn phủ nhận. Tòa án lấy lời khai hai bên, ghi âm, đối chiếu giấy biên nhận và sao kê ngân hàng. Lời khai nguyên đơn phù hợp chứng cứ khác nên được chấp nhận; lời khai bị đơn mâu thuẫn nên không có căn cứ.
Lưu ý thực tiễn: Biên bản phải có chữ ký đương sự, người lấy lời khai, xác nhận sửa chữa. Vi phạm thủ tục có thể làm giảm giá trị chứng cứ của lời khai.
Thực tiễn áp dụng Điều 98 ghi nhận nhiều vướng mắc. Thứ nhất, xác định tư cách đương sự trước khi lấy lời khai. Nếu Tòa án lấy lời khai người chưa được xác định đúng tư cách (người làm chứng, người đại diện) thì lời khai có thể bị vô hiệu, ảnh hưởng giá trị chứng minh theo Điều 93 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Thứ hai, thời điểm và địa điểm lấy lời khai. Điều 98 cho phép lấy lời khai tại trụ sở Tòa án hoặc ngoài trụ sở. Thực tế, nhiều trường hợp đương sự già yếu, ở xa, Tòa án lấy lời khai tại địa phương nhưng không lập biên bản đúng mẫu, thiếu chữ ký của người chứng kiến hoặc đại diện chính quyền, dẫn đến khiếu nại về tính hợp pháp của chứng cứ.
Thứ ba, nội dung lời khai. Điều 98 yêu cầu ghi rõ lời khai của đương sự về từng vấn đề. Thực tiễn cho thấy thẩm phán đôi khi ghi tóm tắt, không đọc lại cho đương sự nghe, không cho đương sự sửa, bổ sung. Điều này vi phạm khoản 3 Điều 98, làm mất tính khách quan, dễ phát sinh tranh chấp tại phiên tòa.
Ví dụ: vụ tranh chấp hợp đồng vay tài sản, Tòa án cấp sơ thẩm lấy lời khai nguyên đơn tại nhà riêng, biên bản chỉ có chữ ký nguyên đơn, không có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã. Cấp phúc thẩm tuyên hủy một phần bản án do vi phạm thủ tục lấy lời khai.
Lưu ý thực tiễn: (1) Xác định đúng tư cách trước khi lấy lời khai; (2) Lập biên bản đúng mẫu, đọc lại cho đương sự nghe, cho sửa, bổ sung và ký xác nhận; (3) Khi lấy ngoài trụ sở phải có người chứng kiến hoặc đại diện chính quyền; (4) Ghi âm, ghi hình nếu cần bảo đảm tính khách quan; (5) Tuân thủ Điều 98 kết hợp Điều 93, 94, 95 về chứng cứ và nguồn chứng cứ.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm: