Điều 31. Quyền của tổ chức phát sóng75 1. Tổ chức phát sóng có độc quyền thực hiện hoặc cho phép tổ chức, cá nhân khác thực hiện các quyền sau đây: a) Phát sóng, tái phát sóng chương trình phát sóng của mình; b) Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hoặc một phần bản định hình Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 9 Điều 1 của Luật số 07/2022/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2023. chương trình phát sóng của mình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 3 Điều này; c) Định hình chương trình phát sóng của mình; d) Phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng thông qua bán hoặc hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác đối với bản định hình chương trình phát sóng của mình dưới dạng hữu hình, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều này. 2. Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại khoản 1 Điều này phải được sự cho phép của chủ sở hữu quyền đối với chương trình phát sóng và trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác (nếu có) cho chủ sở hữu quyền đối với chương trình phát sóng theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận trong trường hợp pháp luật không quy định, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, các điều 25, 25a, 26, 32 và 33 của Luật này. 3. Chủ sở hữu quyền đối với chương trình phát sóng không có quyền ngăn cấm tổ chức, cá nhân khác thực hiện các hành vi sau đây: a) Sao chép c
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Điều 31 Luật Sở hữu trí tuệ quy định quyền của tổ chức phát sóng, gồm ba nhóm quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tín hiệu phát sóng của mình.
Thứ nhất, quyền nhân thân. Tổ chức phát sóng có quyền được nêu tên hoặc tên của tổ chức phát sóng khi phát sóng, phát lại chương trình; được bảo vệ tín hiệu phát sóng không bị sửa chữa, cắt xén dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự, uy tín của tổ chức phát sóng.
Thứ hai, quyền tài sản. Tổ chức phát sóng độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các hành vi: định hình tín hiệu phát sóng; tái phát sóng; phân phối tín hiệu phát sóng đã định hình; và sao chép tín hiệu phát sóng đã định hình.
Thứ ba, giới hạn quyền. Các hành vi nêu trên chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của tổ chức phát sóng, trừ trường hợp pháp luật quy định ngoại lệ (Điều 32 về giới hạn quyền, Điều 25 về sử dụng hợp lý).
Ví dụ thực tiễn. Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) phát sóng trực tiếp một trận bóng đá. Một kênh khác tự ý ghi lại tín hiệu, cắt ghép rồi phát lại trên nền tảng số mà không xin phép. Hành vi này xâm phạm quyền định hình và tái phát sóng của VTV theo Điều 31. VTV có quyền yêu cầu chấm dứt, xin lỗi công khai và bồi thường thiệt hại theo Điều 202, 204 Luật Sở hữu trí tuệ.
Lưu ý. Quyền của tổ chức phát sóng độc lập với quyền tác giả đối với chương trình được phát sóng. Một chương trình có thể đồng thời được bảo hộ với tư cách tác phẩm (quyền tác giả) và tín hiệu phát sóng (quyền liên quan). Thời hạn bảo hộ quyền của tổ chức phát sóng là 50 năm kể từ năm tiếp theo năm tín hiệu phát sóng được định hình (Điều 34).
Khái niệm tổ chức phát sóng. Điều 31 Luật SHTT (văn bản hợp nhất 67/VBHN-VPQH) xác lập quyền của tổ chức phát sóng — chủ thể là tổ chức khởi xướng và chịu trách nhiệm phát sóng chương trình, tín hiệu. Đối tượng bảo hộ là tín hiệu phát sóng (chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh, cáp), không phải nội dung tác phẩm. Điểm này phân biệt với quyền tác giả (bảo hộ tác phẩm) và quyền liên quan của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình.
Điều kiện pháp lý. Tổ chức phát sóng được bảo hộ khi đáp ứng: (i) là tổ chức khởi xướng và thực hiện việc phát sóng; (ii) tín hiệu phát sóng không vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan của chủ thể khác. Bảo hộ phát sinh tự động, không cần đăng ký — phù hợp Điều 6 Luật SHTT về căn cứ phát sinh quyền.
Nội dung quyền. Điều 31 trao độc quyền: định hình tín hiệu, tái định hình, phân phối, truyền đạt tới công chúng. Hành vi xâm phạm gồm: thu, giải mã, tái phát sóng không phép. Ví dụ: đài truyền hình phát trực tiếp trận bóng; website khác lấy tín hiệu phát lại — xâm phạm quyền tổ chức phát sóng gốc.
Thời hạn. Theo Điều 34 Luật SHTT, quyền tổ chức phát sóng kéo dài 50 năm kể từ năm tiếp theo năm phát sóng đầu tiên. Hết hạn, tín hiệu thuộc phạm vi công cộng.
Giới hạn. Điều 32 Luật SHTT quy định ngoại lệ: sử dụng vì mục đích cá nhân, giảng dạy, thông tin thời sự — không cần xin phép, không trả tiền. Đây là cơ chế cân bằng giữa độc quyền và lợi ích công cộng.
Thực tiễn áp dụng. Điều 31 Luật SHTT trao tổ chức phát sóng quyền độc quyền định hình, tái định hình, phân phối, phát lại chương trình; cấm người khác thu, ghi, sao chép, phát lại. Tranh chấp phổ biến: đài truyền hình phát hiện website/ứng dụng OTT phát lại tín hiệu không xin phép; nền tảng video cắt ghép clip bản tin; dịch vụ IPTV truyền lại kênh không thỏa thuận bản quyền.
Lưu ý cho doanh nghiệp.
Ví dụ. Đài A phát sóng trận bóng. Công ty B ghi, đăng lại toàn bộ lên nền tảng của mình mà không xin phép. Đài A có quyền yêu cầu B chấm dứt, bồi thường thiệt hại theo Điều 31 và các điều 198, 202, 204 Luật SHTT.
Điều 31 Luật SHTT (hợp nhất 2026) ghi nhận quyền của tổ chức phát sóng đối với tín hiệu, chương trình do mình phát, phù hợp cam kết quốc tế và thực tiễn số hóa. Tuy nhiên, điều luật chưa bao quát hết hành vi xâm phạm trên môi trường Internet như tái phát sóng trực tuyến, ghi tạm thời trái phép, cắt ghép tín hiệu để trục lợi.
Thực tiễn: nhiều vụ tiếp sóng bóng đá, sóng truyền hình trả tiền không xin phép, gây thiệt hại lớn cho đài truyền hình. Cơ chế xử lý hiện dựa vào Điều 31 kết hợp Điều 28, Điều 198, song chế tài còn nhẹ, khó truy vết chủ thể vi phạm xuyên biên giới.
Kiến nghị:
Hoàn thiện Điều 31 sẽ bảo vệ quyền hợp pháp tổ chức phát sóng, thúc đẩy thị trường nội dung số lành mạnh.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm: