Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 | Công ty Luật Minh Bạch

Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015

Tố tụng dân sự & hành chính · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/10

Điều 271. Người có quyền kháng cáo Đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án

Quyền kháng cáo là quyền tố tụng cơ bản của đương sự và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhằm yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xem xét lại bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật. Theo Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền kháng cáo bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.

Quyền kháng cáo không chỉ giới hạn ở đương sự chính mà còn mở rộng cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Ví dụ, trong vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nếu Tòa án cấp sơ thẩm tuyên hợp đồng vô hiệu và buộc bị đơn trả lại đất, nhưng người đang thuê đất (không phải đương sự chính) bị ảnh hưởng quyền lợi thì người này vẫn có quyền kháng cáo. Tuy nhiên, nếu người kháng cáo không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến phần bản án, quyết định bị kháng cáo thì Tòa án cấp phúc thẩm sẽ đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo đó theo Điều 278.

Về thời hạn, Điều 273 quy định đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt được tính từ ngày nhận bản án hoặc ngày niêm yết. Với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án, thời hạn kháng cáo là 07 ngày kể từ ngày nhận quyết định. Việc nắm rõ quyền và thời hạn kháng cáo giúp đương sự tránh mất quyền tố tụng hợp pháp của mình.

2. Chủ thể có quyền kháng cáo

Theo Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, chủ thể có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án bao gồm: đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện vì lợi ích công cộng, lợi ích nhà nước; và Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án để bảo đảm việc áp dụng pháp luật được đúng đắn. Cụ thể, đương sự gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thể tự mình kháng cáo nếu có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng; nếu là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự thì người đại diện hợp pháp thực hiện quyền này. Đối với cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án vì lợi ích chung, họ cũng được kháng cáo như đương sự. Viện kiểm sát nhân dân có quyền kháng cáo không phụ thuộc vào ý chí đương sự nhằm kiểm sát hoạt động tư pháp; thời hạn kháng cáo của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, cấp trên trực tiếp là 30 ngày kể từ ngày tuyên án (Điều 273).

Ví dụ thực tiễn: Trong vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán nhà ở, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền 2 tỷ đồng. Nếu nguyên đơn cho rằng mức lãi suất chậm trả chưa được tính đúng, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền nộp đơn kháng cáo. Tương tự, nếu phát hiện bản án áp dụng sai Điều 430 Bộ luật Dân sự 2015, Viện kiểm sát cùng cấp có thể kháng cáo trong 15 ngày; trường hợp Viện kiểm sát cấp trên kháng cáo thì thời hạn là 30 ngày. Khi kháng cáo hợp lệ, Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý và xử lý theo Điều 278: nếu kháng cáo không đúng thủ tục, quá hạn thì trả lại đơn; nếu hợp lệ thì đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm. Quy định này vừa bảo vệ quyền tự định đoạt của đương sự, vừa bảo đảm sự giám sát của Viện kiểm sát, góp phần khắc phục sai sót của bản án sơ thẩm.

3. Thời hạn kháng cáo bản án, quyết định

Thời hạn kháng cáo bản án, quyết định được quy định rõ tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, theo đó thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm, thời hạn kháng cáo là 07 ngày, kể từ ngày đương sự nhận được quyết định hoặc từ ngày quyết định được niêm yết. Các quyết định khác của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Cần phân biệt thời hạn kháng cáo với thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát: kháng nghị bản án là 15 ngày, kháng nghị quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ là 07 ngày, cùng tính từ ngày Viện kiểm sát nhận được bản án, quyết định. Khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị mà không có kháng cáo, kháng nghị thì bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (Điều 282). Trường hợp có kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luật định, Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp phúc thẩm để giải quyết theo Điều 278.

Ví dụ thực tiễn: Ngày 10/3, Tòa án nhân dân quận X tuyên bản án dân sự sơ thẩm về tranh chấp hợp đồng vay tài sản, tuyên buộc bị đơn trả 300 triệu đồng. Bị đơn vắng mặt không có lý do chính đáng, nên thời hạn kháng cáo 15 ngày được tính từ ngày bản án được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường. Nếu đến ngày 26/3 bị đơn mới nộp đơn kháng cáo thì đơn đã quá hạn, Tòa án cấp sơ thẩm sẽ không chuyển hồ sơ cho cấp phúc thẩm trừ trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan được quy định tại Điều 275.

Như vậy, việc xác định đúng thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo Điều 273 có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm quyền kháng cáo hợp pháp của đương sự theo Điều 271, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết vụ án dân sự theo tinh thần Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

4. Thủ tục kháng cáo

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, thủ tục kháng cáo bắt đầu bằng việc xác định chủ thể có quyền kháng cáo tại Điều 271: đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ; cơ quan, tổ chức khởi kiện vì lợi ích công cộng; và trong trường hợp đặc biệt, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo trình tự phúc thẩm. Điều 273 ấn định thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với vụ án, và 07 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết đối với trường hợp không có mặt tại phiên tòa; với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án thì thời hạn là 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc ngày niêm yết. Người kháng cáo phải làm đơn gửi đến Tòa án đã xét xử sơ thẩm, nêu rõ nội dung kháng cáo và lý do; kèm theo bản án, quyết định bị kháng cáo hoặc tài liệu liên quan nếu có. Điều 278 xác lập cơ chế xử lý kháng cáo: Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm; nếu kháng cáo quá hạn mà không có lý do chính đáng thì Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định không chấp nhận việc kháng cáo, trừ trường hợp có lý do chính đáng như thiên tai, dịch bệnh, ốm đau được chứng minh.

Ví dụ thực tiễn: A khởi kiện B về tranh chấp hợp đồng vay tài sản; Tòa án sơ thẩm xử buộc B trả 500 triệu đồng. Ngày 01/3/2023 Tòa tuyên án, B vắng mặt nhưng bản án được niêm yết ngày 03/3/2023. Theo Điều 273, thời hạn kháng cáo của B là 15 ngày kể từ ngày niêm yết, tức đến hết ngày 18/3/2023. Nếu B nộp đơn kháng cáo ngày 20/3/2023 kèm giấy chứng nhận nhập viện do tai nạn giao thông, Tòa án có thể chấp nhận là có lý do chính đáng theo Điều 278; ngược lại, nếu không có căn cứ, kháng cáo bị coi là quá hạn và không được thụ lý. Quy định này bảo đảm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, đồng thời duy trì tính ổn định, hiệu lực của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.

5. Xử lý kháng cáo của Tòa án cấp sơ thẩm

Xử lý kháng cáo của Tòa án cấp sơ thẩm là bước tố tụng đầu tiên sau khi bản án, quyết định được tuyên, nhằm xác định tính hợp pháp của việc kháng cáo trước khi chuyển hồ sơ lên Tòa án cấp phúc thẩm. Căn cứ Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án cấp sơ thẩm có trách nhiệm kiểm tra đơn kháng cáo và xử lý theo các tình huống cụ thể.

Các trường hợp xử lý cụ thể: Thứ nhất, nếu kháng cáo trong thời hạn luật định (theo Điều 273 là 15 ngày đối với bản án, 07 ngày đối với quyết định kể từ ngày tuyên án/ban hành), Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện thủ tục thông báo và chuyển hồ sơ lên Tòa án cấp trên trực tiếp trong thời hạn 07 ngày. Thứ hai, nếu kháng cáo quá hạn, Tòa án yêu cầu người kháng cáo trình bày lý do; nếu lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì chấp nhận, nếu không thì ra quyết định không chấp nhận. Thứ ba, nếu người kháng cáo không có quyền theo Điều 271, Tòa án thông báo trả lại đơn. Thứ tư, nếu đơn không đúng thủ tục (thiếu nội dung, không ký tên), Tòa án yêu cầu sửa đổi, bổ sung trong 10 ngày.

Ví dụ thực tiễn: Ông A là bị đơn trong vụ tranh chấp hợp đồng, nhận bản án ngày 01/3/2024 nhưng đến 25/3/2024 mới gửi đơn kháng cáo (quá hạn 09 ngày). Tòa án cấp sơ hẩm yêu cầu ông A nêu lý do. Ông A xuất trình giấy chứng nhận nhập viện do tai nạn từ 05/3 đến 20/3/2024 – đây là trở ngại khách quan theo khoản 2 Điều 278, nên Tòa án chấp nhận kháng cáo quá hạn và chuyển hồ sơ lên cấp phúc thẩm. Ngược lại, nếu ông A chỉ viện dẫn lý do đi công tác, Tòa án sẽ ra quyết định không chấp nhận.

Việc xử lý đúng giúp bảo đảm quyền kháng cáo hợp pháp, đồng thời ngăn chặn kháng cáo tùy tiện, góp phần thực hiện nguyên tắc bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm theo Điều 17 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

6. Hậu quả pháp lý của việc kháng cáo

Hậu quả pháp lý của việc kháng cáo theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS 2015) trước hết là làm phát sinh giai đoạn xét xử phúc thẩm. Khi đương sự có quyền kháng cáo theo Điều 271 BLTTDS 2015 thực hiện quyền này trong thời hạn luật định (Điều 273 BLTTDS 2015), bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật sẽ bị kháng cáo và được chuyển lên Tòa án cấp trên trực tiếp để xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm.

Thứ hai, kháng cáo hợp lệ làm tạm đình chỉ hiệu lực thi hành của bản án, quyết định bị kháng cáo, trừ trường hợp pháp luật quy định bản án, quyết định được thi hành ngay. Điều này bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự, tránh việc thi hành những phán quyết có thể bị sửa, hủy ở cấp phúc thẩm. Ví dụ, A khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản, Tòa sơ thẩm buộc B trả 500 triệu đồng; B kháng cáo trong hạn 15 ngày (đối với vụ án dân sự). Bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực, cơ quan thi hành án chưa thể tổ chức thi hành cho đến khi có bản án, quyết định phúc thẩm.

Thứ ba, về phạm vi xét xử, Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét phần bản án, quyết định bị kháng cáo và những phần liên quan đến kháng cáo. Tuy nhiên, nếu phát hiện sai sót khác ảnh hưởng đến quyền lợi đương sự, Tòa án có thể xem xét toàn bộ vụ án theo quy định tại Điều 278 BLTTDS 2015 về xử lý kháng cáo, bảo đảm giải quyết đúng pháp luật. Hậu quả pháp lý cuối cùng là bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay, kết thúc tranh chấp, trừ trường hợp bị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm theo luật định.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 - Điều 271 về người có quyền kháng cáo
  • Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 - Điều 273 về thời hạn kháng cáo
  • Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 - Điều 278 về xử lý kháng cáo
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.
📞 💬 WhatsApp