Hòa giải là thủ tục tố tụng bắt buộc trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự. Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 dành các Điều 205 đến Điều 213 quy định trình tự, nguyên tắc, thành phần và hậu quả pháp lý của hoạt động này. Bài viết phân tích các quy định cốt lõi, trích nguyên văn điều luật để bạn đọc đối chiếu khi áp dụng thực tiễn.
Hòa giải được tiến hành trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm. Đây là nghĩa vụ tố tụng của Tòa án, không phải quyền tùy nghi. Mục đích: để các đương sự tự thỏa thuận giải quyết vụ án, giảm tải xét xử, hàn gắn quan hệ tranh chấp. Hai nguyên tắc nền tảng: tôn trọng tự nguyện thỏa thuận và nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Tòa án không được dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc bắt buộc đương sự thỏa thuận trái ý chí.
Điều 205. Nguyên tắc tiến hành hòa giải 1. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Bộ luật này hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn. 2. Việc hòa giải được tiến hành theo các nguyên tắc sau đây: a) Tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình; b) Nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Hệ quả: thỏa thuận đạt được do bị ép buộc, lừa dối, đe dọa sẽ không được công nhận. Thẩm phán phải giải thích rõ quyền, nghĩa vụ và hậu quả pháp lý của hòa giải thành trước khi đương sự trình bày quan điểm. Đây là cơ chế bảo đảm tính tự nguyện thực chất, không hình thức.
Pháp luật phân biệt hai nhóm: vụ án không được hòa giải (Điều 206) và vụ án không tiến hành hòa giải được (Điều 207). Nhóm thứ nhất liên quan đến tính chất đặc thù của đối tượng tranh chấp. Nhóm thứ hai liên quan đến điều kiện chủ quan, khách quan của đương sự.
Điều 206. Những vụ án dân sự không được hòa giải
1. Yêu cầu đòi bồi thường vì lý do gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước.
2. Những vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Lý do: tài sản Nhà nước thuộc sở hữu toàn dân, không thể để cá nhân thỏa thuận tùy tiện. Giao dịch vi phạm điều cấm hoặc trái đạo đức xã hội thì bản thân thỏa thuận cũng vô hiệu, Tòa án không thể công nhận.
Điều 207. Những vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được
1. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt.
2. Đương sự không thể tham gia hòa giải được vì có lý do chính đáng.
3. Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự.
4. Một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Lưu ý: trường hợp vắng mặt lần thứ hai phải là "cố tình". Nếu vắng mặt có lý do chính đáng, Tòa án phải hoãn. Trường hợp đương sự đề nghị không hòa giải, Tòa án vẫn mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng không tiến hành hòa giải (khoản 2 Điều 208).
Hòa giải được lồng ghép trong phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Trình tự gồm: kiểm tra căn cước, phổ biến quyền nghĩa vụ; công bố tài liệu, chứng cứ; các đương sự trình bày quan điểm; Thẩm phán xác định vấn đề thống nhất, chưa thống nhất; kết luận. Thư ký Tòa án lập biên bản riêng cho phần kiểm tra chứng cứ và phần hòa giải.
Điều 210. Trình tự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải
1. Trước khi tiến hành phiên họp, Thư ký Tòa án báo cáo Thẩm phán về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên họp đã được Tòa án thông báo. Thẩm phán chủ trì phiên họp kiểm tra lại sự có mặt và căn cước của những người tham gia, phổ biến cho các đương sự về quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định của Bộ luật này.
2. Khi kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Thẩm phán công bố tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, hỏi đương sự về những vấn đề sau đây:
a) Yêu cầu và phạm vi khởi kiện, việc sửa đổi, bổ sung, thay đổi, rút yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập; những vấn đề đã thống nhất, những vấn đề chưa thống nhất yêu cầu Tòa án giải quyết;
b) Tài liệu, chứng cứ đã giao nộp cho Tòa án và việc gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác;
c) Bổ sung tài liệu, chứng cứ; yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ; yêu cầu Tòa án triệu tập đương sự khác, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa;
d) Những vấn đề khác mà đương sự thấy cần thiết.
3. Sau khi các đương sự đã trình bày xong, Thẩm phán xem xét các ý kiến, giải quyết các yêu cầu của đương sự quy định tại khoản 2 Điều này. Trường hợp người được Tòa án triệu tập vắng mặt thì Tòa án thông báo kết quả phiên họp cho họ.
4. Thủ tục tiến hành hòa giải được thực hiện như sau:
a) Thẩm phán phổ biến cho các đương sự về các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các đương sự liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành để họ tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án;
b) Nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày nội dung tranh chấp, bổ sung yêu cầu khởi kiện; những căn cứ để bảo vệ yêu cầu khởi kiện và đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, hướng giải quyết vụ án (nếu có);
c) Bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phản tố (nếu có); những căn cứ để phản đối yêu cầu của nguyên đơn; những căn cứ để bảo vệ yêu cầu phản tố của mình và đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, hướng giải quyết vụ án (nếu có);
d) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn; trình bày yêu cầu độc lập của mình (nếu có); những căn cứ để phản đối yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn; những căn cứ để bảo vệ yêu cầu độc lập của mình và đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, hướng giải quyết vụ án (nếu có);
đ) Người khác tham gia phiên họp hòa giải (nếu có) phát biểu ý kiến;
e) Sau khi các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày hết ý kiến của mình, Thẩm phán xác định những vấn đề các đương sự đã thống nhất, chưa thống nhất và yêu cầu các đương sự trình bày bổ sung về những nội dung chưa rõ, chưa thống nhất;
g) Thẩm phán kết luận về những vấn đề các đương sự đã thống nhất, chưa thống nhất.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Về biên bản, Điều 211 yêu cầu lập hai loại biên bản riêng. Biên bản hòa giải thành ghi nhận nội dung thống nhất, gửi ngay cho đương sự tham gia. Đương sự có quyền xem biên bản, yêu cầu sửa đổi, bổ sung và ký xác nhận hoặc điểm chỉ.
Thành phần phiên họp gồm Thẩm phán chủ trì, Thư ký Tòa án ghi biên bản, các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp (nếu có), người phiên dịch (nếu có). Vụ án lao động có thể có đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động. Vụ án hôn nhân gia đình có thể có đại diện cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam.
Điều 209. Thành phần phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải
1. Thành phần tham gia phiên họp gồm có:
a) Thẩm phán chủ trì phiên họp;
b) Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp;
c) Các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự;
d) Đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động đối với vụ án lao động khi có yêu cầu của người lao động, trừ vụ án lao động đã có tổ chức đại diện tập thể lao động là người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho tập thể người lao động, người lao động. Trường hợp đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động không tham gia hòa giải thì phải có ý kiến bằng văn bản;
đ) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (nếu có);
e) Người phiên dịch (nếu có).
2. Trường hợp cần thiết, Thẩm phán yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan tham gia phiên họp; đối với vụ án về hôn nhân và gia đình, Thẩm phán yêu cầu đại diện cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam tham gia phiên họp; nếu họ vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.
3. Trong vụ án có nhiều đương sự mà có đương sự vắng mặt, nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành phiên họp và việc tiến hành phiên họp đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán tiến hành phiên họp giữa các đương sự có mặt; nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên hòa giải để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên họp. Thẩm phán phải thông báo việc hoãn phiên họp và việc mở lại phiên họp cho đương sự.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Điểm đáng lưu ý: nếu đương sự vắng mặt nhưng có mặt đương sự khác đồng ý tiến hành và không ảnh hưởng quyền, nghĩa vụ của người vắng mặt, Thẩm phán vẫn tiến hành. Thỏa thuận của người có mặt chỉ có giá trị với họ và được công nhận nếu không ảnh hưởng đến đương sự vắng mặt; nếu có ảnh hưởng, phải được đương sự vắng mặt đồng ý bằng văn bản (khoản 3 Điều 212).
Sau khi lập biên bản hòa giải thành, pháp luật dành thời hạn 07 ngày để đương sự cân nhắc, thay đổi ý kiến. Hết thời hạn mà không ai thay đổi, Thẩm phán ra quyết định công nhận. Quyết định chỉ được ra khi các đương sự thỏa thuận được toàn bộ vụ án.
Điều 212. Ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
1. Hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, Tòa án phải gửi quyết định đó cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp.
2. Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
3. Trong trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 210 của Bộ luật này mà các đương sự có mặt thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì thỏa thuận đó chỉ có giá trị đối với những người có mặt và được Thẩm phán ra quyết định công nhận nếu không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt. Trường hợp thỏa thuận của họ có ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì thỏa thuận này chỉ có giá trị và được Thẩm phán ra quyết định công nhận nếu được đương sự vắng mặt tại phiên hòa giải đồng ý bằng văn bản.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Quyết định công nhận có hiệu lực ngay, không bị kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm. Chỉ có thể bị kháng nghị giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng thỏa thuận do nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội (Điều 213).
Điều 213. Hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
1. Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
2. Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Hòa giải thành: Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận. Quyết định có hiệu lực ngay, không kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm. Vụ án kết thúc ở giai đoạn sơ thẩm. Đương sự có thể yêu cầu thi hành án theo nội dung thỏa thuận. Nếu một bên không tự nguyện thi hành, bên kia có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thực hiện. Quyết định chỉ bị kháng nghị giám đốc thẩm khi có căn cứ nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc vi phạm điều cấm, trái đạo đức xã hội.
Hòa giải không thành: Tòa án lập biên bản ghi nhận các vấn đề thống nhất, chưa thống nhất. Vụ án tiếp tục được giải quyết theo trình tự tố tụng. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo Điều 203. Thời hạn mở phiên tòa: 01 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử; trường hợp có lý do chính đáng là 02 tháng.
Điều 203. Thời hạn chuẩn bị xét xử
3. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 Điều này, tùy từng trường hợp, Thẩm phán ra một trong các quyết định sau đây:
a) Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự;
b) Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;
c) Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;
d) Đưa vụ án ra xét xử.
4. Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Trường hợp vụ án bị tạm đình chỉ theo Điều 214 (ví dụ: đương sự chết chưa có người kế thừa, cần đợi kết quả vụ án khác), Tòa án không xóa tên vụ án mà ghi chú vào sổ thụ lý. Tiền tạm ứng án phí, lệ phí được gửi kho bạc và xử lý khi tiếp tục giải quyết (Điều 215).
Thứ nhất, hòa giải là thủ tục bắt buộc trong chuẩn bị xét xử sơ thẩm, trừ vụ án rút gọn, vụ án không được hòa giải, không tiến hành hòa giải được. Bỏ qua thủ tục này là vi phạm nghiêm trọng tố tụng.
Thứ hai, phân biệt rõ "không được hòa giải" (Điều 206) và "không tiến hành hòa giải được" (Điều 207). Hệ quả giống nhau: Tòa án mở phiên họp kiểm tra chứng cứ nhưng không hòa giải.
Thứ ba, thời hạn 07 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành là thời hạn đương sự có quyền thay đổi ý kiến. Hết thời hạn, Thẩm phán phải ra quyết định công nhận nếu không ai thay đổi.
Thứ tư, quyết định công nhận chỉ được ra khi thỏa thuận toàn bộ vụ án. Thỏa thuận từng phần không đủ điều kiện ra quyết định; phần chưa thỏa thuận tiếp tục xét xử.
Thứ năm, trường hợp đương sự vắng mặt nhưng có người có mặt thỏa thuận, cần kiểm tra kỹ thỏa thuận có ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của người vắng mặt không. Nếu có, phải có văn bản đồng ý của người vắng mặt.
Thứ sáu, quyết định công nhận có hiệu lực ngay, nhưng vẫn có thể bị kháng nghị giám đốc thẩm. Cần lưu ý căn cứ kháng nghị hẹp hơn so với bản án thông thường.