Điều 21 Luật Sở hữu trí tuệ (văn bản hợp nhất 2026) quy định về quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh và tác phẩm sân khấu. Đây là điều luật quan trọng, phân định rõ quyền nhân thân và quyền tài sản giữa các chủ thể tham gia vào quá trình sáng tạo và sản xuất tác phẩm. Nội dung điều luật được trích dẫn nguyên văn như sau:
Điều 21. Quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh, tác phẩm sân khấu63 1. Quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh được quy định như sau: a) Biên kịch, đạo diễn được hưởng quyền quy định tại các khoản 1, 2 và 4
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Điều 21 được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 1 của Luật số 07/2022/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2023. Việc sửa đổi lần này tập trung vào việc làm rõ cơ chế phân chia quyền giữa tác giả và nhà đầu tư, đồng thời bổ sung quy định về quyền độc lập đối với các tác phẩm thành phần.
Theo khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ, tác phẩm điện ảnh và tác phẩm sân khấu là các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả. Tác phẩm điện ảnh được hiểu là sản phẩm sáng tạo bao gồm hình ảnh chuyển động kèm theo âm thanh hoặc không có âm thanh, được thể hiện trên vật liệu bất kỳ. Tác phẩm sân khấu là sản phẩm sáng tạo được biểu diễn trực tiếp trên sân khấu, bao gồm kịch nói, opera, múa, nhạc kịch và các loại hình biểu diễn khác.
Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ quy định về quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả. Cụ thể:
Theo Điều 21, biên kịch và đạo diễn được hưởng các quyền tại khoản 1, 2 và 4 Điều 19 — tức quyền đặt tên, quyền đứng tên và quyền bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm. Trong khi đó, những người thực hiện công việc sáng tạo khác như quay phim, dựng phim, thiết kế mỹ thuật, diễn viên chỉ được hưởng quyền tại khoản 2 Điều 19 — quyền đứng tên trên tác phẩm.
Điều 19. Quyền tác giả
1. Quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.
2. Quyền nhân thân bao gồm các quyền sau đây:
a) Đặt tên cho tác phẩm;
b) Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng;
c) Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;
d) Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.
3. Quyền tài sản bao gồm các quyền sau đây:
a) Sao chép tác phẩm;
b) Biểu diễn tác phẩm trước công chúng;
c) Sao chép, phân phối bản sao tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;
d) Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;
đ) Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;
e) Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Điểm c khoản 1 và điểm c khoản 2 Điều 21 xác định tổ chức, cá nhân đầu tư tài chính và cơ sở vật chất - kỹ thuật để sản xuất tác phẩm điện ảnh hoặc xây dựng tác phẩm sân khấu là chủ sở hữu các quyền quy định tại khoản 3 Điều 19 và khoản 1 Điều 20. Điều này có nghĩa nhà đầu tư nắm giữ quyền tài sản và quyền công bố tác phẩm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác bằng văn bản.
Điều 20. Chủ sở hữu quyền tác giả
1. Chủ sở hữu quyền tác giả bao gồm tác giả, đồng tác giả, cơ quan, tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc giao kết hợp đồng với tác giả, người thừa kế hợp pháp của tác giả, người được chuyển giao quyền tác giả theo quy định của pháp luật.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Điểm đ khoản 1 và điểm đ khoản 2 Điều 21 ghi nhận nguyên tắc quan trọng: khi kịch bản, tác phẩm âm nhạc trong tác phẩm điện ảnh hoặc tác phẩm văn học, âm nhạc trong tác phẩm sân khấu được sử dụng độc lập, tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả của các tác phẩm đó được hưởng quyền tác giả một cách độc lập, trừ trường hợp có thỏa thuận khác bằng văn bản. Quy định này bảo vệ quyền lợi của các tác giả sáng tạo nên các tác phẩm thành phần, đặc biệt trong bối cảnh các tác phẩm này có thể được khai thác thương mại riêng biệt.
Trong thực tiễn, tranh chấp về quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh và sân khấu thường phát sinh từ việc không rõ ràng trong hợp đồng. Doanh nghiệp cần lưu ý:
Mặc dù nhà đầu tư nắm giữ quyền tài sản, quyền nhân thân của tác giả vẫn được pháp luật bảo vệ. Doanh nghiệp không được tự ý sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm gây phương hại đến danh dự, uy tín của tác giả. Hành vi vi phạm có thể dẫn đến tranh chấp và trách nhiệm pháp lý theo quy định tại Điều 225 và Điều 226 Luật Sở hữu trí tuệ.
Khi phát hiện hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh, sân khấu, chủ sở hữu quyền có thể áp dụng các biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự tùy theo mức độ vi phạm. Cụ thể:
Theo Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh, sân khấu có thời hạn bảo hộ là 75 năm kể từ ngày tác phẩm được công bố lần đầu hoặc 100 năm kể từ ngày tác phẩm được định hình, tùy theo thời điểm nào đến trước. Quyền nhân thân tại các khoản 1, 2 và 4 Điều 19 được bảo hộ vô thời hạn.
Khi áp dụng Điều 21 Luật Sở hữu trí tuệ, cần chú ý các điểm sau:
Điều 21 Luật Sở hữu trí tuệ là cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết mối quan hệ giữa tác giả và nhà đầu tư trong lĩnh vực điện ảnh, sân khấu. Quy định này thể hiện sự cân bằng giữa việc bảo vệ quyền sáng tạo của tác giả và quyền khai thác thương mại của nhà đầu tư. Để áp dụng hiệu quả, doanh nghiệp cần:
Về phía cơ quan lập pháp, có thể xem xét bổ sung hướng dẫn chi tiết về cách xác định tỷ lệ tiền bản quyền trong trường hợp không có thỏa thuận, cũng như cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các đồng tác giả trong tác phẩm điện ảnh, sân khấu.