Điều 32. Những tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án 1. Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động mà hòa giải thành nhưng các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, hòa giải không thành hoặc không hòa giải trong thời hạn do pháp luật quy định, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải: a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động; b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động; c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động; d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. 2. Tranh chấp lao động tập thể về quyền giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động theo quy định của pháp luật về lao động đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết mà tập thể lao động hoặc người sử dụng lao động không đồng ý với quyết định đó hoặc quá thời hạn mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện không giải quyết. 3. Tranh chấ
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Tranh chấp về lao động theo Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (92/2015/QH13) quy định Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về lao động. Cụ thể:
Ví dụ thực tiễn: Anh A làm việc tại Công ty X, bị chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Anh A khởi kiện ra Tòa án yêu cầu nhận lại làm việc và bồi thường. Tòa án nhân dân cấp huyện thụ lý theo Điều 32 và Điều 33 (thẩm quyền theo lãnh thổ).
Lưu ý: Theo Điều 33, Tòa án nơi người sử dụng lao động đặt trụ sở hoặc nơi người lao động làm việc có thẩm quyền giải quyết. Người lao động được miễn án phí trong một số trường hợp theo quy định pháp luật lao động.
Kết luận: Điều 32 xác định rõ ranh giới thẩm quyền giữa Tòa án và các cơ chế giải quyết tranh chấp lao động khác (hòa giải, trọng tài), bảo đảm quyền tiếp cận công lý của người lao động.
Yêu cầu về lao động theo Điều 33
Điều 33 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (92/2015/QH13) liệt kê các yêu cầu về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Đây là việc dân sự, không phải vụ án lao động. Khác Điều 32 (tranh chấp lao động), Điều 33 không có tranh chấp giữa các bên.
Các yêu cầu cụ thể:
Phân tích. Đối tượng Điều 33 là "yêu cầu" — một bên đề nghị Tòa án giải quyết, không có nguyên đơn/bị đơn tranh chấp. Thủ tục áp dụng Chương XXIII (thủ tục giải quyết việc dân sự), không phải thủ tục khởi kiện vụ án.
Ví dụ thực tiễn. Người sử dụng lao động ban hành quyết định sa thải người lao động. Người lao động cho rằng sa thải trái pháp luật. Đây là tranh chấp lao động (Điều 32), phải qua hòa giải cơ sở trước khi khởi kiện. Ngược lại, doanh nghiệp yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu do giao kết với người chưa đủ tuổi — đây là yêu cầu về lao động (Điều 33), không cần hòa giải.
Lưu ý. Phân biệt đúng Điều 32 và Điều 33 quyết định thủ tục, thời hiệu, án phí. Nhầm lẫn dẫn đến trả lại đơn hoặc đình chỉ giải quyết.
Điều kiện thụ lý
Theo Điều 32, 33 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (92/2015/QH13), Tòa án thụ lý tranh chấp lao động khi đáp ứng đủ điều kiện.
1. Thẩm quyền theo loại việc (Điều 32)
2. Thẩm quyền theo cấp (Điều 33)
3. Điều kiện tiên quyết
Đối với tranh chấp lao động cá nhân về quyền, lợi ích, phải qua hòa giải cơ sở theo Điều 32 Luật Lao động trước khi khởi kiện, trừ trường hợp không hòa giải được hoặc hết thời hạn hòa giải. Tranh chấp tập thể phải qua Hội đồng trọng tài lao động hoặc hòa giải.
4. Ví dụ thực tiễn
Anh A làm việc tại Công ty X, bị sa thải trái luật. Anh A khởi kiện ra Tòa án nhân dân cấp huyện nơi công ty đặt trụ sở. Tòa thụ lý nếu: (i) có tranh chấp lao động cá nhân; (ii) đã qua hòa giải cơ sở hoặc thuộc trường hợp không cần hòa giải; (iii) không thuộc trường hợp có yếu tố nước ngoài. Nếu thiếu bước hòa giải, Tòa trả đơn theo Điều 192.
5. Hậu quả
Không đủ điều kiện: Tòa trả lại đơn khởi kiện (Điều 192) hoặc đình chỉ giải quyết (Điều 217). Đủ điều kiện: Tòa thụ lý, thông báo cho đương sự.
Thủ tục hòa giải tiền tố tụng
Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định: tranh chấp lao động phải qua hòa giải tại cơ sở trước khi khởi kiện, trừ các trường hợp không bắt buộc. Điều 33 xác định thẩm quyền Tòa án giải quyết tranh chấp lao động khi hòa giải không thành hoặc hết thời hạn hòa giải mà không được giải quyết.
Hòa giải tiền tố tụng bắt buộc với: tranh chấp lao động cá nhân về tiền lương, thời giờ làm việc, kỷ luật lao động, bồi thường thiệt hại; tranh chấp về bảo hiểm xã hội theo quy định pháp luật lao động. Hòa giải viên lao động cấp huyện chủ trì, thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn yêu cầu.
Không bắt buộc hòa giải: tranh chấp về sa thải trái pháp luật; tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải; tranh chấp về bồi thường thiệt hại do sa thải trái pháp luật; tranh chấp tập thể về lợi ích; tranh chấp liên quan đến hoạt động của tổ chức đại diện người lao động.
Ví dụ: A làm việc tại Công ty X, bị chậm lương 2 tháng. A phải gửi đơn yêu cầu hòa giải đến Hòa giải viên lao động. Nếu hòa giải thành, hai bên ký biên bản thỏa thuận. Nếu hòa giải không thành hoặc hết 5 ngày làm việc mà không hòa giải, A có quyền khởi kiện ra Tòa án nhân dân cấp huyện nơi công ty đặt trụ sở hoặc nơi A làm việc theo Điều 33.
Lưu ý: biên bản hòa giải không thành là tài liệu bắt buộc kèm đơn khởi kiện. Thiếu thủ tục này, Tòa án trả lại đơn theo Điều 192. Thời hiệu khởi kiện 1 năm kể từ ngày phát sinh tranh chấp.
Bỏ qua: phân tích chi tiết trình tự phiên họp hòa giải, thêm khi cần tư vấn quy trình cụ thể.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm: