Trọng tài viên là người được các bên lựa chọn hoặc do Trung tâm trọng tài chỉ định để giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Vai trò của Trọng tài viên có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng và tính công bằng của phán quyết trọng tài. Điều 21 Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định quyền và nghĩa vụ của Trọng tài viên. Bài viết phân tích nội dung Điều 21 và những yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp đối với Trọng tài viên.
Điều 21. Quyền, nghĩa vụ của Trọng tài viên
1. Chấp nhận hoặc từ chối giải quyết tranh chấp.
2. Độc lập trong việc giải quyết tranh chấp.
3. Từ chối cung cấp các thông tin liên quan đến vụ tranh chấp.
4. Được hưởng thù lao.
5. Giữ bí mật nội dung vụ tranh chấp mà mình giải quyết, trừ trường hợp phải cung cấp thông tin cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
6. Bảo đảm giải quyết tranh chấp vô tư, nhanh chóng, kịp thời.
7. Tuân thủ quy tắc đạo đức nghề nghiệp.
Nguồn: Toàn văn Điều 21 Luật Trọng tài thương mại 2010 — Luật Minh Bạch
Khoản 1 Điều 21 quy định Trọng tài viên có quyền chấp nhận hoặc từ chối giải quyết tranh chấp. Đây là quyền quan trọng, bảo đảm Trọng tài viên chỉ tham gia giải quyết khi có đủ điều kiện về năng lực, thời gian và sự độc lập cần thiết. Trọng tài viên có thể từ chối khi có xung đột lợi ích, không đủ chuyên môn hoặc vì lý do chính đáng khác.
Khoản 4 quy định Trọng tài viên được hưởng thù lao. Thù lao trọng tài là khoản tiền mà các bên hoặc Trung tâm trọng tài trả cho Trọng tài viên để giải quyết tranh chấp, căn cứ vào quy định của pháp luật và quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài. Thù lao trọng tài được quy định tại Điều 34 Luật Trọng tài thương mại 2010.
Khoản 3 quy định Trọng tài viên có quyền từ chối cung cấp các thông tin liên quan đến vụ tranh chấp. Quyền này gắn liền với nghĩa vụ giữ bí mật quy định tại khoản 5, bảo đảm tính riêng tư của quá trình tố tụng trọng tài — một trong những ưu điểm của phương thức trọng tài so với giải quyết tại Tòa án.
Khoản 2 Điều 21 quy định Trọng tài viên phải độc lập trong việc giải quyết tranh chấp. Tính độc lập là yêu cầu cốt lõi của hoạt động trọng tài, bảo đảm Trọng tài viên chỉ căn cứ vào chứng cứ, quy định pháp luật và lẽ công bằng để đưa ra phán quyết, không chịu sự chi phối, tác động của bất kỳ bên nào.
Để bảo đảm tính độc lập, pháp luật quy định Trọng tài viên phải từ chối giải quyết tranh chấp khi thuộc các trường hợp quy định tại Điều 42 Luật Trọng tài thương mại 2010, ví dụ: là người thân thích của một bên hoặc người đại diện của một bên; có lợi ích liên quan trong vụ tranh chấp; là người đã tham gia giải quyết vụ tranh chấp với tư cách Thẩm phán, Kiểm sát viên, Hòa giải viên hoặc người có liên quan khác.
Khi có sự kiện ảnh hưởng đến tính độc lập, khách quan, Trọng tài viên phải thông báo ngay cho các bên và Trung tâm trọng tài. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi Trọng tài viên nếu có lý do chính đáng cho rằng Trọng tài viên không vô tư, khách quan (Điều 42).
Khoản 5 Điều 21 quy định Trọng tài viên phải giữ bí mật nội dung vụ tranh chấp mà mình giải quyết, trừ trường hợp phải cung cấp thông tin cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ giữ bí mật được thực hiện trong suốt quá trình tố tụng và sau khi vụ tranh chấp đã được giải quyết.
Tính bảo mật là một trong những lợi thế quan trọng của trọng tài so với tố tụng tại Tòa án. Các bên thường lựa chọn trọng tài khi muốn bảo vệ bí mật kinh doanh, uy tín thương mại, thông tin nhạy cảm. Trọng tài viên vi phạm nghĩa vụ giữ bí mật có thể phải chịu trách nhiệm theo quy định pháp luật.
Ngoại lệ của nghĩa vụ giữ bí mật là việc cung cấp thông tin cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định. Ví dụ, khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu cung cấp thông tin phục vụ hoạt động tố tụng hoặc quản lý nhà nước, Trọng tài viên có nghĩa vụ cung cấp. Việc cung cấp phải trong phạm vi và theo thủ tục luật định.
Khoản 6 Điều 21 quy định Trọng tài viên phải bảo đảm giải quyết tranh chấp vô tư, nhanh chóng, kịp thời. Đây là ba yêu cầu về chất lượng và tiến độ của hoạt động trọng tài.
Tính vô tư đòi hỏi Trọng tài viên không thiên vị bất kỳ bên nào, đối xử bình đẳng với các bên, lắng nghe và xem xét đầy đủ ý kiến, chứng cứ của mỗi bên. Tính nhanh chóng đòi hỏi việc giải quyết tranh chấp được thực hiện trong thời hạn luật định hoặc theo thỏa thuận của các bên, không kéo dài không cần thiết. Tính kịp thời đòi hỏi các quyết định tố tụng được đưa ra đúng lúc, bảo đảm hiệu quả giải quyết tranh chấp.
Theo Điều 45 Luật Trọng tài thương mại 2010, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, thời hạn giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài là 06 tháng kể từ ngày Hội đồng trọng tài được thành lập đối với giải quyết tranh chấp tại Trung tâm trọng tài, hoặc kể từ ngày Hội đồng trọng tài được thành lập theo thủ tục do các bên thỏa thuận đối với trọng tài vụ việc.
Khoản 7 Điều 21 quy định Trọng tài viên phải tuân thủ quy tắc đạo đức nghề nghiệp. Quy tắc đạo đức nghề nghiệp của Trọng tài viên được quy định tại Quyết định số 1843/QĐ-TTg ngày 14/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy tắc đạo đức nghề nghiệp của Trọng tài viên (nay đã được thay thế bởi quy tắc đạo đức hiện hành).
Quy tắc đạo đức nghề nghiệp quy định các chuẩn mực về: giữ gìn danh dự, uy tín của Trọng tài viên; độc lập, khách quan, vô tư trong giải quyết tranh chấp; giữ bí mật thông tin; trách nhiệm giải thích về quyết định; không có hành vi phân biệt đối xử; và các yêu cầu về thù lao.
Việc tuân thủ quy tắc đạo đức không chỉ là nghĩa vụ pháp lý mà còn là yêu cầu để bảo đảm uy tín của các Trọng tài viên và của Trung tâm trọng tài. Trọng tài viên vi phạm quy tắc đạo đức có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật và quy chế của Trung tâm trọng tài.
Theo Điều 20 Luật Trọng tài thương mại 2010, Trọng tài viên phải đáp ứng các tiêu chuẩn: có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; có trình độ đại học trở lên; đã có thời gian công tác theo quy định của Luật Trọng tài thương mại; đối với Trọng tài viên nước ngoài phải có đủ các điều kiện như đối với Trọng tài viên Việt Nam. Các tiêu chuẩn cụ thể có thể khác nhau giữa Trọng tài viên nước ngoài và Trọng tài viên Việt Nam.
Việc đáp ứng các tiêu chuẩn về năng lực và uy tín nghề nghiệp là điều kiện để Trọng tài viên được lựa chọn giải quyết tranh chấp. Các bên khi lựa chọn Trọng tài viên nên cân nhắc kinh nghiệm, trình độ chuyên môn và uy tín của Trọng tài viên đối với loại tranh chấp cụ thể.
Danh sách Trọng tài viên được công bố tại Trung tâm trọng tài. Các bên có thể lựa chọn Trọng tài viên từ danh sách này hoặc theo thỏa thuận trong trường hợp trọng tài vụ việc. Đối với trọng tài vụ việc, Trọng tài viên có thể do các bên thỏa thuận lựa chọn hoặc theo yêu cầu của một bên, miễn đáp ứng tiêu chuẩn luật định.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm: