Điều 5. Điều kiện giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài 1. Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp. 2. Trường hợp một bên tham gia thoả thuận trọng tài là cá nhân chết hoặc mất năng lực hành vi, thoả thuận trọng tài vẫn có hiệu lực đối với người thừa kế hoặc người đại diện theo pháp luật của người đó, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác. 3. Trường hợp một bên tham gia thỏa thuận trọng tài là tổ chức phải chấm dứt hoạt động, bị phá sản, giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách hoặc chuyển đổi hình thức tổ chức, thỏa thuận trọng tài vẫn có hiệu lực đối với tổ chức tiếp nhận quyền và nghĩa vụ của tổ chức đó, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Điều 5. Điều kiện giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài
Điều 5 Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định hai điều kiện để tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài:
Hai điều kiện này phải hội đủ. Thiếu thẩm quyền hoặc thiếu thoả thuận trọng tài, Trọng tài không có cơ sở thụ lý.
Ví dụ thực tiễn: Công ty A và Công ty B ký hợp đồng mua bán hàng hoá, có điều khoản: “Tranh chấp phát sinh được giải quyết tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC).” Khi A kiện B về thanh toán, tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại (khoản 1 Điều 2) và có thoả thuận trọng tài (khoản 2 Điều 3). Đủ điều kiện Điều 5. VIAC thụ lý.
Ngược lại, hợp đồng không có điều khoản trọng tài, hoặc điều khoản vô hiệu, thì dù tranh chấp thuộc thẩm quyền Trọng tài theo Điều 2, Trọng tài vẫn không thụ lý được. Toà án có thẩm quyền giải quyết.
Khi có phản đối thẩm quyền, Hội đồng Trọng tài xem xét theo Điều 43. Toà án cũng kiểm tra điều kiện này khi xét yêu cầu huỷ phán quyết theo Điều 68. Điều 5 là điều kiện tiên quyết, xuyên suốt tố tụng trọng tài.
Căn cứ: Luật Trọng tài thương mại 2010 (54/2010/QH12), Điều 5.
Điều kiện áp dụng:
Thủ tục áp dụng:
Ví dụ thực tiễn: A và B ký hợp đồng mua bán, có điều khoản “tranh chấp giải quyết tại Trung tâm Trọng tài VIAC”. A khởi kiện Tòa án. Tòa án từ chối thụ lý vì có thỏa thuận trọng tài hợp lệ (Điều 5 khoản 1). Ngược lại, nếu điều khoản trọng tài do người không có thẩm quyền ký, thỏa thuận vô hiệu (Điều 5 khoản 2), Tòa án thụ lý.
Thủ tục trọng tài cụ thể: Điều 30–50 Luật Trọng tài thương mại 2010.
Lưu ý thực tiễn
Điều 5 Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định điều kiện giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài. Thực tiễn áp dụng đặt ra một số lưu ý.
Thỏa thuận trọng tài vô hiệu. Điều 5 dẫn chiếu Điều 18. Các trường hợp vô hiệu: tranh chấp ngoài thẩm quyền Điều 2; người ký không có thẩm quyền; bên bị lừa dối, đe dọa; vi phạm điều cấm; hình thức không hợp pháp. Ví dụ: thỏa thuận ký bởi nhân viên không có giấy ủy quyền — Tòa tuyên vô hiệu, tranh chấp chuyển Tòa án.
Thỏa thuận không rõ ràng. Nhiều hợp đồng ghi "giải quyết tại Trọng tài Việt Nam" nhưng không nêu tổ chức cụ thể. Điều 11 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP: không xác định được tổ chức trọng tài thì thỏa thuận không thể thực hiện được. Cần ghi rõ tên, ví dụ "Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC)".
Tranh chấp có yếu tố nước ngoài. Điều 2 và Điều 3 khoản 4 xác định thẩm quyền. Bên nước ngoài không có cơ sở kinh doanh tại Việt Nam — thi hành phán quyết khó khăn. Cần thỏa thuận địa điểm trọng tài, ngôn ngữ, luật áp dụng khi soạn điều khoản.
Thời hiệu. Điều 33: thời hiệu khởi kiện trọng tài 3 năm kể từ ngày quyền, lợi ích bị xâm phạm. Quá hạn — mất quyền yêu cầu.
Kiểm tra thẩm quyền trước khi nộp đơn. Nguyên đơn cần rà soát: tranh chấp thương mại? thỏa thuận hợp pháp? tổ chức trọng tài xác định? Nếu không — nguy cơ đình chỉ, mất thời gian, chi phí.
Tóm lại, điều kiện Điều 5 không chỉ là thỏa thuận trọng tài. Cần đảm bảo thỏa thuận hợp pháp, rõ ràng, đúng thẩm quyền, còn thời hiệu. Soạn điều khoản cụ thể, có tư vấn pháp lý, giảm rủi ro vô hiệu.
Kết luận. Điều kiện giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài theo Luật Trọng tài thương mại 2010 (54/2010/QH12).
Căn cứ Điều 2: Trọng tài có thẩm quyền với tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại; tranh chấp mà ít nhất một bên có hoạt động thương mại; tranh chấp khác do pháp luật quy định.
Căn cứ Điều 3 khoản 2: Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về giải quyết bằng Trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh.
Điều 5 quy định điều kiện và hiệu lực thỏa thuận trọng tài: thỏa thuận phải bằng văn bản; có thể lập trước hoặc sau khi phát sinh tranh chấp. Thỏa thuận vô hiệu khi: tranh chấp không thuộc thẩm quyền Trọng tài; người lập không có thẩm quyền; bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép; vi phạm điều cấm pháp luật; hình thức không phù hợp.
Phân tích: Thỏa thuận trọng tài hợp pháp là điều kiện tiên quyết. Không có thỏa thuận, Trọng tài không có thẩm quyền, dù tranh chấp thuộc lĩnh vực thương mại. Thỏa thuận thể hiện quyền tự định đoạt của các bên. Tòa án chỉ thụ lý khi không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận vô hiệu.
Ví dụ thực tiễn: Công ty A và Công ty B ký hợp đồng mua bán, có điều khoản: “Mọi tranh chấp phát sinh được giải quyết tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) theo quy tắc tố tụng VIAC.” Tranh chấp phát sinh, A khởi kiện ra Tòa án. Nếu B yêu cầu áp dụng thỏa thuận trọng tài, Tòa án từ chối thụ lý, trừ trường hợp thỏa thuận vô hiệu theo Điều 5. Ngược lại, hợp đồng không có điều khoản trọng tài, Tòa án có thẩm quyền.
Lưu ý: Thỏa thuận vô hiệu khi tranh chấp không thuộc thẩm quyền Trọng tài (Điều 2), ví dụ tranh chấp quyền sử dụng đất. Thỏa thuận cũng vô hiệu nếu người ký không có thẩm quyền hoặc bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép.
Kết luận: Điều kiện giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài là có thỏa thuận trọng tài hợp pháp, bằng văn bản, tranh chấp thuộc thẩm quyền Trọng tài theo Điều 2. Các bên cần kiểm tra kỹ điều khoản trọng tài trước khi ký kết để tránh rủi ro pháp lý.
→ skipped: phân tích Điều 5 khoản 2, 3; thêm khi cần tranh chấp về hiệu lực thỏa thuận trọng tài.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm: