Bình luận Điều 20 Luật SHTT: Quyền tài sản của tác giả | Công ty Luật Minh Bạch

Bình luận Điều 20 Luật SHTT: Quyền tài sản của tác giả

Sở hữu trí tuệ · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/10

Quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản. Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ quy định các quyền tài sản thuộc quyền tác giả, tức những quyền gắn với việc khai thác kinh tế tác phẩm. Đây là nhóm quyền có thể chuyển giao, cho phép khai thác và mang lại thu nhập cho tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả. Bài viết phân tích nội dung Điều 20 và những vấn đề thực tiễn khi khai thác quyền tài sản.

Điều 20. Quyền tài sản

1. Quyền tài sản bao gồm:

a) Làm tác phẩm phái sinh;

b) Biểu diễn tác phẩm trước công chúng trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các bản ghi âm, ghi hình hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào tại địa điểm mà công chúng có thể tiếp cận được nhưng công chúng không thể tự do lựa chọn thời gian và từng phần tác phẩm;

c) Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hoặc một phần tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 3 Điều này;

d) Phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng thông qua bán hoặc hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác đối với bản gốc, bản sao tác phẩm dưới dạng hữu hình, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều này;

đ) Phát sóng, truyền đạt đến công chúng tác phẩm bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác, bao gồm cả việc cung cấp tác phẩm đến công chúng theo cách mà công chúng có thể tiếp cận được tại địa điểm và thời gian do họ lựa chọn;

e) Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính, trừ trường hợp chương trình máy tính đó không phải là đối tượng chính của việc cho thuê.

2. Các quyền quy định tại khoản 1 Điều này do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép tổ chức, cá nhân khác thực hiện theo quy định của Luật này. Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại khoản 1 Điều này và khoản 3 Điều 19 của Luật này phải được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả và trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác (nếu có) cho chủ sở hữu quyền tác giả...

Nguồn: Toàn văn Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ — Luật Minh Bạch

1. Khái niệm quyền tài sản trong quyền tác giả

Quyền tác giả theo Luật Sở hữu trí tuệ gồm hai nhóm: quyền nhân thân quy định tại Điều 19 và quyền tài sản quy định tại Điều 20. Quyền nhân thân gắn với cá nhân tác giả, không thể chuyển giao (trừ một số quyền có thể chuyển giao theo quy định). Quyền tài sản gắn với việc khai thác kinh tế tác phẩm và có thể chuyển giao, cho phép khai thác.

Sự phân biệt này có ý nghĩa thực tiễn quan trọng. Tác giả có thể chuyển nhượng hoặc cho phép khai thác quyền tài sản nhưng vẫn giữ quyền nhân thân như quyền đứng tên trên tác phẩm, quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm. Việc khai thác quyền tài sản không làm mất đi tư cách tác giả của người sáng tạo ra tác phẩm.

Quyền tài sản theo Điều 20 là quyền độc quyền: chỉ tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả mới được thực hiện hoặc cho phép tổ chức, cá nhân khác thực hiện. Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng quyền tài sản phải được sự cho phép và trả tiền bản quyền, trừ các trường hợp ngoại lệ luật định.

2. Các quyền tài sản cụ thể

Điểm a khoản 1 Điều 20 quy định quyền làm tác phẩm phái sinh. Tác phẩm phái sinh là tác phẩm được sáng tạo dựa trên một hoặc nhiều tác phẩm đã có, ví dụ tác phẩm dịch, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể. Khi làm tác phẩm phái sinh mà ảnh hưởng đến quyền nhân thân của tác giả, phải được sự đồng ý bằng văn bản của tác giả.

Điểm b quy định quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng trực tiếp hoặc gián tiếp. Điểm c quy định quyền sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hoặc một phần tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào. Điểm d quy định quyền phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng thông qua bán hoặc hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác đối với bản gốc, bản sao tác phẩm dưới dạng hữu hình.

Điểm đ quy định quyền phát sóng, truyền đạt đến công chúng tác phẩm bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác, bao gồm cả việc cung cấp tác phẩm đến công chúng theo cách mà công chúng có thể tiếp cận được tại địa điểm và thời gian do họ lựa chọn. Điểm e quy định quyền cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.

3. Điều kiện khai thác quyền tài sản

Khoản 2 Điều 20 quy định tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ quyền tài sản phải được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả và trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả. Điều này xác lập nguyên tắc: khai thác quyền tài sản phải có sự cho phép và trả thù lao.

Các trường hợp ngoại lệ không cần xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền được quy định tại các điều 25, 25a, 26 Luật Sở hữu trí tuệ về giới hạn quyền tác giả. Các trường hợp ngoại lệ không cần xin phép và không phải trả tiền bản quyền được quy định tại các điều 32, 33 Luật Sở hữu trí tuệ. Việc phân biệt các trường hợp này có ý nghĩa quan trọng để xác định nghĩa vụ của người sử dụng tác phẩm.

Trường hợp làm tác phẩm phái sinh mà ảnh hưởng đến quyền nhân thân quy định tại khoản 4 Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ (quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm), còn phải được sự đồng ý bằng văn bản của tác giả. Đây là yêu cầu bổ sung nhằm bảo vệ quyền nhân thân của tác giả.

4. Chuyển giao quyền tài sản

Quyền tài sản có thể được chuyển giao thông qua hai hình thức: chuyển nhượng quyền tác giả và chuyển giao quyền sử dụng quyền tác giả. Theo Điều 45 Luật Sở hữu trí tuệ, chuyển nhượng quyền tác giả là việc chủ sở hữu quyền tác giả chuyển giao quyền sở hữu đối với các quyền quy định tại khoản 3 Điều 19 và khoản 1 Điều 20 cho tổ chức, cá nhân khác.

Theo Điều 47 Luật Sở hữu trí tuệ, chuyển giao quyền sử dụng quyền tác giả là việc chủ sở hữu quyền tác giả cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng một hoặc một số quyền quy định tại khoản 3 Điều 19 và khoản 1 Điều 20. Việc chuyển giao quyền sử dụng có thể theo hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật.

Hợp đồng chuyển nhượng và hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng quyền tác giả phải được lập thành văn bản. Đối với chuyển nhượng, văn bản có thể được công chứng hoặc chứng thực nếu các bên có yêu cầu. Hợp đồng cần ghi rõ phạm vi, thời hạn, phương thức sử dụng, giá chuyển nhượng hoặc thù lao và các điều kiện khác.

5. Thời hạn bảo hộ quyền tài sản

Theo Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền tài sản có thời hạn bảo hộ khác với quyền nhân thân. Quyền nhân thân (trừ quyền công bố tác phẩm) được bảo hộ vô thời hạn. Quyền tài sản được bảo hộ trong suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theo năm tác giả chết hoặc 50 năm kể từ năm tác phẩm được công bố đối với một số loại tác phẩm.

Đối với tác phẩm khuyết danh, thời hạn bảo hộ là 75 năm kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu. Đối với tác phẩm không được công bố trong thời hạn 25 năm kể từ khi tác phẩm được định hình, thời hạn bảo hộ là 100 năm kể từ khi tác phẩm được định hình.

Khi hết thời hạn bảo hộ, tác phẩm thuộc về công chúng (public domain) và mọi người có thể tự do sử dụng mà không cần xin phép, không phải trả tiền bản quyền. Tuy nhiên, quyền nhân thân vẫn được tôn trọng, đặc biệt là quyền đứng tên tác giả và quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm.

6. Thực tiễn bảo vệ quyền tài sản

Thứ nhất, tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả nên chứng minh quyền của mình thông qua việc đăng ký quyền tác giả tại Cục Bản quyền tác giả. Mặc dù quyền tác giả phát sinh tự động, không bắt buộc đăng ký, nhưng Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả là chứng cứ quan trọng khi giải quyết tranh chấp.

Thứ hai, khi phát hiện hành vi xâm phạm quyền tài sản, chủ sở hữu có thể áp dụng các biện pháp xử lý theo quy định tại Điều 199 đến Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ: biện pháp dân sự, hành chính, hình sự và kiểm soát biên giới. Việc lựa chọn biện pháp phụ thuộc vào tính chất, mức độ xâm phạm và mục tiêu của chủ sở hữu.

Thứ ba, các hợp đồng chuyển nhượng, chuyển giao quyền sử dụng cần ghi rõ phạm vi quyền được chuyển giao. Việc ghi chung chung có thể dẫn đến tranh chấp về phạm vi sử dụng, đặc biệt khi tác phẩm được khai thác trên nhiều nền tảng, phương thức khác nhau trong bối cảnh chuyển đổi số.

Thứ tư, trong môi trường số, việc bảo vệ quyền tài sản gặp nhiều thách thức. Các biện pháp công nghệ bảo vệ quyền tác giả và thông tin quản lý quyền (DRM, watermark) giúp theo dõi và ngăn chặn xâm phạm. Chủ sở hữu cũng có thể sử dụng các dịch vụ giám sát bản quyền trực tuyến để phát hiện vi phạm kịp thời.

7. Câu hỏi thường gặp

Quyền tài sản trong quyền tác giả gồm những quyền gì? Gồm quyền làm tác phẩm phái sinh, biểu diễn, sao chép, phân phối, phát sóng truyền đạt và cho thuê theo khoản 1 Điều 20.

Dùng tác phẩm của người khác có phải xin phép không? Có, trừ các trường hợp ngoại lệ luật định không cần xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền hoặc không phải trả tiền bản quyền.

Quyền tài sản được bảo hộ bao lâu? Suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theo năm tác giả chết, hoặc theo thời hạn cụ thể cho từng loại tác phẩm.

Có thể chuyển nhượng quyền tài sản không? Có, thông qua hợp đồng chuyển nhượng hoặc hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng lập thành văn bản.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Luật Sở hữu trí tuệ (văn bản hợp nhất) - Điều 20 về quyền tài sản của tác giả
  • Luật Sở hữu trí tuệ (văn bản hợp nhất) - Điều 19, 27, 45, 47 về quyền nhân thân, thời hạn bảo hộ và chuyển giao quyền
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.
📞 💬 WhatsApp