Quyền thừa kế theo Bộ luật Dân sự 2015 | Công ty Luật Minh Bạch

Quyền thừa kế theo Bộ luật Dân sự 2015

thua-ke · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/10

Quyền thừa kế là một trong những quyền dân sự cơ bản của cá nhân, được Hiến pháp và Bộ luật Dân sự ghi nhận và bảo vệ. Trên thực tế, tranh chấp thừa kế chiếm tỷ trọng lớn trong các vụ án dân sự tại Việt Nam, xuất phát từ nhiều nguyên nhân: người để lại di sản không lập di chúc, di chúc lập không đúng hình thức, người thừa kế không thống nhất được phương án phân chia, hoặc không xác định được phạm vi di sản. Bài viết dưới đây phân tích Điều 609 Bộ luật Dân sự 2015 – điều luật mở đầu Phần thứ tư về thừa kế – cùng các điều kiện, thủ tục và lưu ý thực tiễn liên quan.

1. Nội dung Điều 609 Bộ luật Dân sự 2015

Điều 609 nằm ở Chương XXI "Quy định chung" của Phần thứ tư "Thừa kế", Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13. Điều luật quy định quyền thừa kế ở dạng khái quát, có vai trò định hướng cho toàn bộ chế định thừa kế phía sau. Nguyên văn điều luật như sau:

Điều 609. Quyền thừa kế Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Điều 609 ghi nhận ba nhóm quyền của cá nhân. Thứ nhất, quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình. Thứ hai, quyền để lại tài sản cho người thừa kế theo pháp luật (trường hợp không có di chúc hoặc di chúc không hợp pháp, không định đoạt hết di sản). Thứ ba, quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Khoản 2 bổ sung một nội dung quan trọng: người thừa kế không phải là cá nhân – ví dụ cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, nhà thờ, quỹ từ thiện – chỉ có thể hưởng di sản theo di chúc, chứ không thể hưởng theo pháp luật.

Nguyên tắc nền tảng này được cụ thể hóa ngay tại Điều 610 về quyền bình đẳng:

Điều 610. Quyền bình đẳng về thừa kế của cá nhân

Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Bình đẳng ở đây không phân biệt nam nữ, dân tộc, thành phần xã hội, tình trạng hôn nhân hay nơi cư trú. Con trai và con gái, con trong giá thú và con ngoài giá thú (nếu xác định được quan hệ cha mẹ), vợ và chồng đều có quyền hưởng di sản như nhau theo hàng thừa kế tương ứng.

Thời điểm phát sinh quyền thừa kế được xác định tại Điều 611:

Điều 611. Thời điểm, địa điểm mở thừa kế

1. Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này.

2. Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ di sản hoặc nơi có phần lớn di sản.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Thời điểm mở thừa kế có ý nghĩa then chốt: xác định người thừa kế có còn sống hay đã thành thai trước thời điểm đó hay không, xác định khối di sản tại thời điểm mở thừa kế, tính thời hiệu thừa kế. Địa điểm mở thừa kế có ý nghĩa về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Tòa án nhân dân.

2. Điều kiện và thủ tục áp dụng

2.1. Điều kiện về di sản

Không phải mọi tài sản của người chết đều tự động trở thành di sản. Điều 612 xác định phạm vi di sản:

Điều 612. Di sản

Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Với tài sản chung của vợ chồng, phần của người chết thường được xác định là một nửa giá trị tài sản chung, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc tài sản được xác định theo phương pháp khác. Với tài sản chung của nhóm đồng sở hữu, di sản là phần giá trị tương ứng với phần quyền sở hữu của người chết. Ngoài ra, di sản còn bao gồm quyền tài sản có thể chuyển giao, các khoản nợ phải thu, quyền sử dụng đất (nếu thuộc trường hợp được để lại thừa kế).

2.2. Điều kiện về người thừa kế

Điều 613. Người thừa kế

Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Đây là điều kiện về tư cách chủ thể. Người đã chết trước thời điểm mở thừa kế không có quyền hưởng di sản; con đã thành thai trước khi người để lại di sản chết thì vẫn được hưởng di sản (nếu sinh ra và còn sống). Đối với tổ chức, phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Kể từ thời điểm mở thừa kế, quyền và nghĩa vụ tài sản phát sinh:

Điều 614. Thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế

Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Quyền hưởng di sản song hành với nghĩa vụ tài sản. Điều 615 giới hạn nghĩa vụ này trong phạm vi di sản:

Điều 615. Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại

1. Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế trong phạm vi di sản do người chết để lại.

3. Trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

4. Trường hợp người thừa kế không phải là cá nhân hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Nguyên tắc quan trọng: người thừa kế không phải "gánh nợ" vượt quá giá trị di sản nhận được. Điều này bảo vệ người thừa kế trước các khoản nợ lớn của người chết.

2.3. Điều kiện lập di chúc hợp pháp

Điều 626 quy định quyền của người lập di chúc:

Điều 626. Quyền của người lập di chúc

Người lập di chúc có quyền sau đây:

1. Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế.

2. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế.

3. Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng.

4. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế.

5. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Tuy nhiên, quyền lập di chúc không tuyệt đối. Điều 630 đặt ra điều kiện để di chúc hợp pháp:

Điều 630. Di chúc hợp pháp

1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

2.4. Thủ tục lập di chúc tại tổ chức công chứng hoặc UBND cấp xã

Điều 636. Thủ tục lập di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã

Việc lập di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã phải tuân theo thủ tục sau đây:

1. Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc trước công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã phải ghi chép lại nội dung mà người lập di chúc đã tuyên bố. Người lập di chúc ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc đã được ghi chép chính xác và thể hiện đúng ý chí của mình. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã ký vào bản di chúc.

2. Trường hợp người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe được bản di chúc, không ký hoặc không điểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng và người này phải ký xác nhận trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã chứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di chúc và người làm chứng.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

2.5. Thời hiệu thừa kế

Điều 623. Thời hiệu thừa kế

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Thời hiệu là vấn đề thực tiễn phức tạp. Nhiều vụ tranh chấp thừa kế bị đình chỉ vì đã hết thời hiệu 30 năm đối với bất động sản hoặc 10 năm đối với động sản. Tuy nhiên, trường hợp các đồng thừa kế đang cùng quản lý, sử dụng di sản mà không có tranh chấp thì Tòa án vẫn có thể tuyên chia di sản theo hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán.

3. Lưu ý thực tiễn

3.1. Người không được quyền hưởng di sản

Điều 621 loại trừ một số trường hợp khỏi quyền hưởng di sản:

Điều 621. Người không được quyền hưởng di sản

1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:

a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

2. Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Cần phân biệt: người bị truất quyền hưởng di sản theo di chúc (do người lập di chúc chỉ định) khác với người không được quyền hưởng di sản theo luật (do hành vi vi phạm). Tuy nhiên, khoản 2 cho phép "tha thứ": nếu người để lại di sản biết hành vi nhưng vẫn cho hưởng theo di chúc thì người đó vẫn được hưởng.

3.2. Từ chối nhận di sản

Điều 620. Từ chối nhận di sản

1. Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.

2. Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết.

3. Việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Lưu ý: từ chối nhận di sản không được dùng để trốn tránh nghĩa vụ tài sản với chủ nợ. Nếu một người đang có nợ nhưng từ chối di sản để không phải trả nợ, việc từ chối có thể bị tuyên vô hiệu.

3.3. Di sản không có người nhận

Điều 622. Tài sản không có người nhận thừa kế

Trường hợp không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc về Nhà nước.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

3.4. Người quản lý di sản

Khoảng thời gian từ khi mở thừa kế đến khi phân chia di sản có thể kéo dài nhiều năm. Trong giai đoạn này, người quản lý di sản đóng vai trò quan trọng:

Điều 616. Người quản lý di sản

1. Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thỏa thuận cử ra.

2. Trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản.

3. Trường hợp chưa xác định được người thừa kế và di sản chưa có người quản lý theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì di sản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Thực tiễn cho thấy nhiều vụ tranh chấp phát sinh chính vì di sản bị người đang chiếm hữu tự ý bán, cho thuê, thế chấp mà không có sự đồng ý bằng văn bản của các đồng thừa kế. Điều 617 nghiêm cấm việc định đoạt tài sản trong khối di sản khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của những người thừa kế, và buộc người quản lý phải bồi thường nếu gây thiệt hại.

3.5. Chết cùng thời điểm

Một tình huống thực tế phổ biến là vợ chồng, cha mẹ và con cùng tử vong trong một tai nạn. Điều 619 giải quyết:

Điều 619. Việc thừa kế của những người có quyền thừa kế di sản của nhau mà chết cùng thời điểm

Trường hợp những người có quyền thừa kế di sản của nhau đều chết cùng thời điểm hoặc được coi là chết cùng thời điểm do không thể xác định được người nào chết trước (sau đây gọi chung là chết cùng thời điểm) thì họ không được thừa kế di sản của nhau và di sản của mỗi người do người thừa kế của người đó hưởng, trừ trường hợp thừa kế thế vị theo quy định tại Điều 652 của Bộ luật này.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

3.6. Khuyến nghị thực tiễn

Thứ nhất, lập di chúc bằng văn bản có công chứng để giảm thiểu rủi ro về hình thức. Di chúc tự viết không có công chứng, chứng thực chỉ hợp pháp khi có đủ điều kiện tại khoản 1 Điều 630, và các điều kiện này thường xuyên bị tranh cãi trước Tòa án.

Thứ hai, di chúc cần ghi rõ tài sản định đoạt, tên người hưởng, phần

📞 💬 WhatsApp