Quyền bình đẳng về thừa kế là một trong những nguyên tắc nền tảng của Phần thứ tư Bộ luật Dân sự 2015 (91/2015/QH13, có hiệu lực từ ngày 01/01/2017). Nguyên tắc này xuất phát trực tiếp từ Hiến pháp 2013 — mọi người bình đẳng trước pháp luật — và được cụ thể hóa thành một điều luật riêng: Điều 610. Bài viết dưới đây của Công ty Luật Minh Bạch phân tích nội dung điều luật, điều kiện áp dụng, thủ tục thực hiện trên thực tế, và những điểm cần lưu ý khi giải quyết tranh chấp thừa kế.
Điều 610. Quyền bình đẳng về thừa kế của cá nhân Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Điều 610 ghi nhận hai nhóm quyền song song của mỗi cá nhân: quyền để lại tài sản và quyền hưởng di sản. Cách diễn đạt "mọi cá nhân" khẳng định tính phổ quát — không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo, thành phần xã hội, quốc tịch, tình trạng hôn nhân hay năng lực hành vi dân sự (trong phạm vi pháp luật cho phép). Người phụ nữ có quyền lập di chúc định đoạt tài sản riêng của mình y như người nam; con trai và con gái hưởng di sản ngang nhau; con trong giá thú và con ngoài giá thú đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cha, mẹ.
Điều 610 không đứng độc lập. Nó là nguyên tắc chi phối toàn bộ Chương XXI và Chương XXII, được cụ thể hóa bằng hàng loạt điều luật khác. Điều 609 xác lập chính khái niệm quyền thừa kế:
Điều 609. Quyền thừa kế Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Hai hình thức thừa kế — theo di chúc và theo pháp luật — đều nằm trong phạm vi bình đẳng. Người lập di chúc có quyền chỉ định bất kỳ ai làm người thừa kế, kể cả không phải người thân thích, trừ những hạn chế luật định. Ngược lại, người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản theo Điều 620. Không ai bị buộc phải nhận tài sản trái ý muốn, cũng không ai bị tước quyền chỉ vì lý do giới tính hay thứ bậc sinh thành.
Quyền lập di chúc của cá nhân được liệt kê cụ thể tại Điều 626:
Điều 626. Quyền của người lập di chúc Người lập di chúc có quyền sau đây: 1. Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế. 2. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế. 3. Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng. 4. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế. 5. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Đáng chú ý, quyền "truất quyền hưởng di sản của người thừa kế" tại khoản 1 không mâu thuẫn với Điều 610. Bình đẳng về quyền không đồng nghĩa với việc mọi người thừa kế đều nhận phần bằng nhau trong mọi trường hợp. Người để lại di sản vẫn có toàn quyền tự định đoạt tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của mình. Điều 610 bảo đảm cơ hội pháp lý ngang nhau, không bảo đảm kết quả tài sản ngang nhau.
Xác định thời điểm mở thừa kế là bước đầu tiên để cụ thể hóa quyền bình đẳng. Mọi người thừa kế đều có quyền như nhau tính từ cùng một mốc thời gian:
Điều 611. Thời điểm, địa điểm mở thừa kế 1. Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này. 2. Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ di sản hoặc nơi có phần lớn di sản.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Bình đẳng về quyền hưởng di sản chỉ có ý nghĩa pháp lý khi chủ thể đáp ứng điều kiện luật định. Điều 613 xác định tư cách người thừa kế:
Điều 613. Người thừa kế Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Quy định này bảo vệ thai nhi — đứa trẻ sinh ra sau khi cha hoặc mẹ qua đời nhưng đã thành thai trước thời điểm mở thừa kế vẫn được hưởng di sản như mọi người thừa kế khác. Đây là biểu hiện cụ thể của nguyên tắc bình đẳng: không phân biệt người đã ra đời hay chưa ra đời tại thời điểm mở thừa kế, miễn thỏa mãn điều kiện luật định.
Quyền thừa kế phát sinh kể từ thời điểm mở thừa kế, kéo theo cả quyền và nghĩa vụ tài sản:
Điều 614. Thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Bình đẳng đi kèm trách nhiệm. Người hưởng di sản phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại, trong phạm vi di sản:
Điều 615. Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại 1. Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. 2. Trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế trong phạm vi di sản do người chết để lại. 3. Trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. 4. Trường hợp người thừa kế không phải là cá nhân hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Khi cá nhân lựa chọn hình thức thừa kế theo di chúc, di chúc phải đáp ứng các điều kiện luật định mới phát sinh hiệu lực:
Điều 630. Di chúc hợp pháp 1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây: a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép; b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật. 2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc. 3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực. 4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này. 5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi vẫn có quyền lập di chúc nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý. Người bị hạn chế thể chất, người không biết chữ vẫn có quyền lập di chúc thông qua người làm chứng và công chứng, chứng thực. Đây chính là biểu hiện thực tiễn của nguyên tắc bình đẳng — không ai bị tước quyền định đoạt tài sản vì hoàn cảnh cá nhân.
Mặt khác của bình đẳng là quyền nói "không". Điều 620 cho phép người thừa kế từ chối nhận di sản, với ba điều kiện về mục đích, hình thức và thời điểm:
Điều 620. Từ chối nhận di sản 1. Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác. 2. Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết. 3. Việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Thực tiễn cho thấy nhiều người nhầm tưởng chỉ cần không nhận tài sản là đủ. Sai. Từ chối phải lập thành văn bản, gửi đến đúng chủ thể, và thực hiện trước khi di sản được phân chia. Từ chối sau khi đã chia có thể bị coi là hành vi chuyển nhượng, phát sinh nghĩa vụ thuế và thủ tục khác.
Quyền bình đẳng chỉ được thực thi trong thời hiệu luật định:
Điều 623. Thời hiệu thừa kế 1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau: a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này; b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này. 2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. 3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Ba mốc thời hiệu khác nhau (30 năm, 10 năm, 03 năm) thường gây nhầm lẫn. Cần phân biệt rõ: yêu cầu chia di sản bất động sản là 30 năm, động sản là 10 năm; yêu cầu xác nhận hoặc bác bỏ quyền thừa kế là 10 năm; yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản là 03 năm.
Tùy tình huống, thủ tục gồm một hoặc nhiều bước sau:
Nếu di sản chưa chia và có người quản lý, nghĩa vụ và quyền của người này được điều chỉnh bởi Điều 616, 617 và 618:
Điều 616. Người quản lý di sản 1. Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thỏa thuận cử ra. 2. Trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản. 3. Trường hợp chưa xác định được người thừa kế và di sản chưa có người quản lý theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì di sản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Người quản lý di sản không được tự ý bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc định đoạt tài sản bằng hình thức khác nếu chưa có sự đồng ý bằng văn bản của những người thừa kế (Điều 617). Đây là chốt chặn bảo vệ quyền bình đẳng trước hành vi chiếm đoạt hoặc tẩu tán di sản.
Cần phân biệt rõ hai khái niệm. Bình đẳng về quyền là mọi người có cơ hội pháp lý như nhau để trở thành người thừa kế, yêu cầu chia di sản, từ chối nhận di sản. Phần di sản thực nhận phụ thuộc vào nội dung di chúc, thỏa thuận giữa các đồng thừa kế, hoặc quy định pháp luật về chia theo hàng thừa kế. Người cha có thể để lại toàn bộ tài sản cho con út và truất quyền các con khác — điều này hợp pháp, không vi phạm Điều 610.
Quyền bình đẳng bị giới hạn theo Điều 621 đối với người có hành vi xâm phạm nghiêm trọng:
Điều 621. Người không được quyền hưởng di sản 1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản: a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó; b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản; c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng; d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản. 2. Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Khoản 2 là quy định "ân xá" — người bị loại trừ vẫn có thể hưởng di sản nếu người để lại di sản biết rõ hành vi nhưng vẫn quyết định cho hưởng. Tuy nhiên, người này chỉ hưởng theo di chúc, không đương nhiên được phục hồi tư cách thừa kế theo pháp luật.
Di sản không có người nhận thuộc về Nhà nước:
Điều 622. Tài sản không có người nhận thừa kế Trường hợp không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc về Nhà nước.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Một tình huống phổ biến trong tai nạn, thiên tai: vợ chồng, cha con cùng chết mà không xác định được ai chết trước. Điều 619 xử lý:
Điều 619. Việc thừa kế của những người có quyền thừa kế di sản của nhau mà chết cùng thời điểm Trường hợp những người có quyền thừa kế di sản của nhau đều chết cùng thời điểm hoặc được coi là chết cùng thời điểm do không thể xác định được người nào chết trước (sau đây gọi chung là chết cùng thời điểm) thì họ không được thừa kế di sản của nhau và di sản của mỗi người do người thừa kế của người đó hưởng, trừ trường hợp thừa kế th