Điều 616. Người quản lý di sản 1. Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thỏa thuận cử ra. 2. Trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản. 3. Trường hợp chưa xác định được người thừa kế và di sản chưa có người quản lý theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì di sản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Căn cứ Điều 616 Bộ luật Dân sự 2015: người để lại di sản có quyền chỉ định người quản lý di sản trong di chúc. Nếu di chúc không chỉ định, những người thừa kế thỏa thuận cử người quản lý. Trường hợp không thỏa thuận được, người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý cho đến khi có thỏa thuận hoặc Tòa án quyết định.
Thứ tự ưu tiên gồm ba bậc:
Người quản lý di sản theo Điều 616 phải thực hiện nghĩa vụ tại Điều 617: bảo quản di sản, không bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp nếu không có thỏa thuận của người thừa kế; thông báo về di sản; giao lại di sản đúng thời hạn. Quyền hạn tại Điều 618: đại diện cho người thừa kế trong quan hệ liên quan đến di sản; được thanh toán chi phí bảo quản hợp lý.
Ví dụ thực tiễn: ông A lập di chúc chỉ định bà B (em gái) quản lý căn nhà để lại cho con chưa thành niên. Bà B giữ nhà, cho thuê, thu tiền thuê bảo quản cho đến khi con đủ 18 tuổi giao lại. Nếu di chúc không chỉ định và các con không thỏa thuận được, người đang giữ nhà tiếp tục quản lý theo bậc 3.
Lưu ý: chỉ định người quản lý không làm mất quyền thừa kế của người thừa kế; người quản lý chỉ giữ vai trò bảo quản, giao lại di sản.
Căn cứ: Điều 617 Bộ luật Dân sự 2015 (91/2015/QH13).
Điều 617 quy định người quản lý di sản có các nghĩa vụ sau:
Phân tích: Nghĩa vụ tại Điều 617 gắn với tư cách người quản lý di sản được xác lập theo Điều 616 (chỉ định trong di chúc, do những người thừa kế cử, hoặc do cơ quan có thẩm quyền chỉ định). Khoản 2 là giới hạn quyền định đoạt — bảo vệ khối di sản khỏi bị xâm hại trước khi phân chia. Khoản 3 và 4 bảo đảm tính minh bạch, gắn trách nhiệm giải trình với quyền hưởng thừa kế tại Điều 618.
Ví dụ thực tiễn: Ông A được chỉ định quản lý di sản gồm một căn nhà. Ông A tự ý bán nhà mà không có văn bản thỏa thuận của các đồng thừa kế — vi phạm khoản 2. Hậu quả: giao dịch có thể bị tuyên vô hiệu, ông A phải bồi thường thiệt hại theo khoản 5 và có thể bị thay thế người quản lý khác.
Lưu ý: Nghĩa vụ tại Điều 617 không loại trừ trách nhiệm theo Điều 618 (quyền của người quản lý di sản) và các quy định chung về nghĩa vụ dân sự tại Điều 3 Bộ luật Dân sự 2015 (thiện chí, trung thực, tự chịu trách nhiệm).
Căn cứ: Điều 618 Bộ luật Dân sự 2015 (91/2015/QH13).
Người quản lý di sản có các quyền sau:
Phân tích: Quyền đại diện (khoản 1) cho phép người quản lý xác lập giao dịch với bên thứ ba nhân danh người thừa kế — ví dụ khởi kiện đòi lại tài sản di sản bị chiếm giữ. Quyền bảo vệ (khoản 2) gồm niêm phong, kiểm kê, thu hồi tài sản thất lạc. Quyền thanh toán chi phí (khoản 4) bảo đảm người quản lý không chịu thiệt khi ứng tiền trông coi, sửa chữa nhà, đóng thuế.
Ví dụ: Ông A chỉ định bà B quản lý di sản gồm căn nhà cho thuê. Bà B ký hợp đồng thuê, thu tiền, sửa mái hư. Khi người thừa kế về nhận di sản, bà B được hoàn trả chi phí sửa chữa (khoản 4) và giao lại tiền thuê cùng nhà (khoản 3).
Lưu ý: Quyền hạn gắn với nghĩa vụ tại Điều 617 — quản lý như tài sản của chính mình, bảo quản, không bán/trao đổi nếu không cần thiết. Người chỉ định theo Điều 616 có thể là cá nhân hoặc pháp nhân.
Căn cứ: Điều 616, 617, 618 Bộ luật Dân sự 2015 (91/2015/QH13).
Người quản lý di sản có quyền hưởng thù lao. Điều 618 BLDS 2015 quy định người quản lý di sản được hưởng thù lao theo thỏa thuận với những người thừa kế. Trường hợp không có thỏa thuận, người quản lý được hưởng thù lao theo mức do những người thừa kế quyết định.
Thù lao gắn với quan hệ ủy quyền, không phải quan hệ thừa kế. Người quản lý không đương nhiên là người thừa kế. Thù lao bù đắp công sức, chi phí bảo quản, quản lý khối di sản.
Cơ chế xác lập:
Ví dụ thực tiễn: Ông A lập di chúc chỉ định ông B quản lý khối di sản gồm nhà, đất cho đến khi chia thừa kế. Di chúc ghi ông B hưởng 5% giá trị di sản. Căn cứ Điều 618, ông B hưởng thù lao 5%. Nếu di chúc không ghi, ông B thỏa thuận với các con ông A; không thỏa thuận được, các con quyết định mức thù lao.
Lưu ý: Thù lao khác chi phí bảo quản di sản. Chi phí hợp lý được thanh toán từ di sản (Điều 618). Thù lao là khoản trả cho công quản lý. Người quản lý phải trung thực, bảo quản di sản (Điều 617); vi phạm gây thiệt hại phải bồi thường, có thể mất quyền hưởng thù lao.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm: