Nhập hoặc tách vụ án dân sự: điều kiện và thủ tục | Công ty Luật Minh Bạch

Nhập hoặc tách vụ án dân sự: điều kiện và thủ tục

Tố tụng dân sự & hành chính · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/10

Điều 42. Nhập hoặc tách vụ án 1. Tòa án nhập hai hoặc nhiều vụ án mà Tòa án đó đã thụ lý riêng biệt thành một vụ án để giải quyết nếu việc nhập và việc giải quyết trong cùng một vụ án bảo đảm đúng pháp luật. Đối với vụ án có nhiều người có cùng yêu cầu khởi kiện đối với cùng một cá nhân hoặc cùng một cơ quan, tổ chức thì Tòa án có thể nhập các yêu cầu của họ để giải quyết trong cùng một vụ án. 2. Tòa án tách một vụ án có các yêu cầu khác nhau thành hai hoặc nhiều vụ án nếu việc tách và việc giải quyết các vụ án được tách bảo đảm đúng pháp luật. 3. Khi nhập hoặc tách vụ án quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, Tòa án đã thụ lý vụ án phải ra quyết định và gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp, đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Mục 3. GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ TRONG TRƯỜNG HỢP CHƯA CÓ ĐIỀU LUẬT ĐỂ ÁP DỤNG

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Nhập vụ án theo Điều 42

Nhập vụ án là việc Tòa án gộp hai hoặc nhiều vụ án dân sự đang được thụ lý riêng biệt thành một vụ án để giải quyết trong cùng một vụ việc. Căn cứ pháp lý cho hoạt động này được quy định tại Điều 42 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019, 2022). Theo đó, Tòa án nhập hai hoặc nhiều vụ án khi có đủ các điều kiện sau: (i) các vụ án đều do cùng một Tòa án thụ lý giải quyết; (ii) việc giải quyết các vụ án có liên quan với nhau; (iii) việc nhập vụ án bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được chính xác, nhanh chóng, toàn diện và đúng pháp luật.

Điều kiện tiên quyết là cùng một Tòa án thụ lý. Nếu các vụ án thuộc thẩm quyền của các Tòa án khác nhau thì không thể nhập. Điều kiện "có liên quan với nhau" được hiểu là giữa các vụ án có mối quan hệ về chủ thể, đối tượng tranh chấp hoặc căn cứ pháp lý, việc giải quyết vụ án này có ảnh hưởng đến kết quả giải quyết vụ án kia. Ví dụ thực tiễn: A khởi kiện B đòi nợ theo hợp đồng vay tài sản; đồng thời C khởi kiện A và B đòi bồi thường thiệt hại do chính tài sản là đối tượng của hợp đồng vay gây ra. Hai vụ án này có cùng chủ thể liên quan và cùng nguồn gốc phát sinh tranh chấp, nếu giải quyết riêng rẽ có thể dẫn đến mâu thuẫn trong đánh giá chứng cứ, do đó Tòa án có thể nhập để giải quyết chung.

Về thủ tục, theo khoản 2 Điều 42, khi nhập vụ án, Tòa án phải ra quyết định nhập vụ án và gửi quyết định đó cho những người tham gia tố tụng, Viện kiểm sát cùng cấp. Quyết định nhập vụ án là căn cứ để Tòa án tiến hành các thủ tục tố tụng chung cho toàn bộ vụ án đã nhập. Việc nhập vụ án chỉ được thực hiện trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm; sau thời điểm này, việc nhập vụ án không còn phù hợp vì có thể vi phạm nguyên tắc xét xử trực tiếp, liên tục.

Lưu ý, việc nhập vụ án là quyền chủ động của Tòa án, không phụ thuộc vào yêu cầu của đương sự. Tuy nhiên, đương sự có quyền đề nghị Tòa án xem xét nhập vụ án nếu nhận thấy có căn cứ. Trong thực tiễn, việc nhập vụ án giúp tiết kiệm thời gian, chi phí tố tụng, tránh việc giải quyết trùng lặp hoặc mâu thuẫn giữa các bản án, quyết định của Tòa án đối với các quan hệ pháp luật có liên quan chặt chẽ với nhau.

2. Tách vụ án theo Điều 42

1. Căn cứ pháp lý và điều kiện tách vụ án

Điều 42 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về quyền tách vụ án của Tòa án. Theo đó, Tòa án có quyền tách vụ án dân sự khi có căn cứ tại khoản 1 Điều 42: “Trong quá trình giải quyết vụ án, nếu việc tách vụ án là cần thiết và có lợi cho việc giải quyết vụ án thì Tòa án có thể tách vụ án đó thành nhiều vụ án khác nhau theo thủ tục do Bộ luật này quy định.”

Điều kiện tách vụ án gồm hai tiêu chí tích lũy: (i) việc tách là cần thiết; (ii) việc tách có lợi cho việc giải quyết vụ án. Tính “cần thiết” được xác định khi vụ án có nhiều quan hệ pháp luật tranh chấp độc lập, việc giải quyết chung gây khó khăn, kéo dài thời gian xét xử. Tính “có lợi” thể hiện ở việc tách giúp vụ án được giải quyết nhanh chóng, đúng hạn luật định, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của đương sự.

2. Thủ tục tách vụ án

Thủ tục tách vụ án được thực hiện theo khoản 2 Điều 42. Tòa án ra quyết định tách vụ án trước khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm. Quyết định tách vụ án phải ghi rõ lý do tách, phần nội dung được tách thành vụ án mới. Vụ án mới được thụ lý và giải quyết theo thủ tục chung của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đương sự có quyền khiếu nại quyết định tách vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 42 trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định.

3. Ví dụ thực tiễn

Ví dụ: Nguyên đơn khởi kiện đòi bị đơn trả nợ theo hợp đồng vay tài sản và bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm sức khỏe. Hai quan hệ pháp luật này độc lập, không liên quan về chứng cứ và nhân thân người tham gia. Việc giải quyết chung buộc Tòa án phải thu thập chứng cứ của cả hai quan hệ, kéo dài thời gian xét xử. Tòa án có thể tách thành hai vụ án: vụ án đòi nợ và vụ án bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, bảo đảm mỗi vụ được giải quyết nhanh chóng, đúng thời hạn chuẩn bị xét xử theo Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự.

3. Thẩm quyền quyết định nhập, tách

Thẩm quyền quyết định việc nhập hoặc tách vụ án dân sự thuộc về Tòa án đang giải quyết vụ việc, cụ thể là Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án. Căn cứ pháp lý trực tiếp là khoản 3 Điều 42 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (được hợp nhất tại văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH), quy định: “Việc nhập hoặc tách vụ án do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án quyết định và phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp.”

Như vậy, thẩm quyền này không thuộc về Chánh án Tòa án, Hội đồng xét xử hay bất kỳ chủ thể nào khác. Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án là người duy nhất có quyền ra quyết định nhập hoặc tách vụ án. Quyết định này được ban hành trong quá trình chuẩn bị xét xử, trước khi đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm.

Về trình tự, khi Thẩm phán quyết định nhập hoặc tách vụ án, người này phải ban hành quyết định bằng văn bản và thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp. Việc thông báo là bắt buộc nhằm bảo đảm sự giám sát của Viện kiểm sát đối với hoạt động tố tụng của Tòa án, phù hợp với nguyên tắc tranh tụng và giám sát tố tụng được quy định tại Điều 21 và Điều 22 của Bộ luật này.

Ví dụ thực tiễn: Tòa án nhân dân quận A thụ lý hai vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn X với bị đơn Y. Hai vụ án có cùng nguyên đơn, cùng bị đơn, cùng quan hệ pháp luật tranh chấp và cùng một hợp đồng vay nhưng bị chia thành hai lần khởi kiện khác nhau. Trong trường hợp này, Thẩm phán được phân công giải quyết có quyền ra quyết định nhập hai vụ án thành một vụ án để giải quyết trong cùng một vụ kiện, bảo đảm tính thống nhất và tránh mâu thuẫn trong phán quyết. Ngược lại, nếu một vụ án có nhiều quan hệ pháp luật khác nhau, việc giải quyết chung gây khó khăn, kéo dài, Thẩm phán có thể tách vụ án thành nhiều vụ án độc lập để giải quyết riêng.

Quyết định nhập hoặc tách vụ án của Thẩm phán không phải là quyết định có thể kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Tuy nhiên, nếu quyết định này ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự, đương sự có quyền khiếu nại theo quy định tại Chương XXXII của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự.

4. Hệ quả đối với hoạt động tố tụng

Việc nhập hoặc tách vụ án theo Điều 42 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 không chỉ là thao tác kỹ thuật về mặt hồ sơ, mà còn làm phát sinh các hệ quả tố tụng quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của đương sự và tiến trình giải quyết vụ việc.

Thứ nhất, về hiệu lực của các hành vi tố tụng đã thực hiện. Khoản 1 Điều 42 quy định: "Trong trường hợp nhập hoặc tách vụ án, Tòa án phải thông báo cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp về việc nhập hoặc tách vụ án". Việc nhập hoặc tách vụ án không làm mất hiệu lực các hành vi tố tụng đã được thực hiện hợp lệ trước đó. Ví dụ: các biên bản lấy lời khai, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, kết quả định giá tài sản đã lập trước khi nhập vụ án vẫn được sử dụng làm căn cứ giải quyết trong vụ án mới. Đây là nguyên tắc bảo đảm tính liên tục, tránh lãng phí thời gian và chi phí tố tụng.

Thứ hai, về thời hạn chuẩn bị xét xử. Khi nhập nhiều vụ án thành một, thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại từ ngày ra quyết định nhập vụ án. Ngược lại, khi tách vụ án, mỗi vụ án mới được xác lập sẽ có thời hạn chuẩn bị xét xử riêng, tính từ ngày ra quyết định tách. Hệ quả này buộc Tòa án phải xác định chính xác thời điểm phát sinh để bảo đảm quyền được xét xử trong thời hạn luật định của đương sự.

Thứ ba, về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Khi nhập vụ án, các đương sự trong từng vụ án trở thành đương sự chung trong vụ án mới; quyền yêu cầu, quyền cung cấp chứng cứ, quyền tham gia phiên tòa được thực hiện thống nhất. Khi tách vụ án, đương sự phải thực hiện quyền và nghĩa vụ riêng trong từng vụ án được tách. Ví dụ: vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản có nhiều bên vay, Tòa án tách thành các vụ án riêng cho từng bên vay; mỗi bên vay trở thành bị đơn độc lập, phải tự mình thực hiện nghĩa vụ chứng minh theo Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Thứ tư, về nghĩa vụ thông báo. Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp về việc nhập hoặc tách vụ án (khoản 1 Điều 42). Việc thông báo này bảo đảm quyền được biết, quyền tham gia tố tụng của đương sự, đồng thời tạo điều kiện để Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp. Nếu Tòa án không thông báo, đương sự có quyền khiếu nại theo quy định tại Chương XXXIII Bộ luật Tố tụng dân sự.

Như vậy, việc nhập hoặc tách vụ án đòi hỏi Tòa án phải xử lý đồng bộ các vấn đề về thời hạn, hiệu lực hành vi tố tụng và quyền lợi của đương sự, bảo đảm việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, chính xác theo đúng tinh thần tại Điều 1 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 hợp nhất 12 văn bản - Điều 42
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.
📞 💬 WhatsApp